Khơi thông nguồn vốn vay dựa trên dữ liệu

Minh bạch hóa dữ liệu đóng vai trò quyết định trong việc khơi thông nguồn vốn cho vay khi thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW về chuyển đổi số và phát triển dữ liệu.

Minh Phương/Báo Tin tức và Dân tộc
15/09/2026
13:13

Khơi thông nguồn vốn vay dựa trên dữ liệu
PGS.TS Lê Hoàng Anh, Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh (Ảnh nhân vật cung cấp).

PGS.TS Lê Hoàng Anh, Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh đã trả lời với phóng viên báo Tin tức và Dân tộc xung quanh vấn đề này.

Thưa ông, doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) thường gặp nhiều rào cản khi tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản bảo đảm. Thời gian qua, nhiều ngân hàng đã chuyển dần sang mô hình cho vay dựa trên dòng tiền, năng lực quản trị và mức độ minh bạch tài chính của doanh nghiệp. Ông đánh giá như thế nào về vấn đề này?

Điều này đặc biệt có ý nghĩa với SME, doanh nghiệp mới thành lập hoặc khởi nghiệp chưa có nhiều lịch sử tài chính. Thay vì thẩm định truyền thống hay đòi hỏi tài sản thế chấp, nhiều ngân hàng, công ty tài chính đã sử dụng dữ liệu vận hành thực tế được doanh nghiệp đồng ý chia sẻ (như hóa đơn điện tử, doanh thu, dòng tiền, dữ liệu kế toán) làm cơ sở đánh giá tín dụng, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho nhóm doanh nghiệp này.

SME hiện chiếm khoảng 95% tổng số doanh nghiệp, tạo việc làm cho hơn 80% lao động và đóng góp gần 50% GDP. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận tín dụng của khu vực này chỉ trong khoảng 30 - 40%.

Một trong những nguyên nhân cốt lõi là cách tiếp cận tín dụng vẫn mang nặng tính truyền thống. Ngân hàng thường dựa vào tài sản bảo đảm, báo cáo tài chính chuẩn hóa và dữ liệu lịch sử để đánh giá hồ sơ vay vốn, trong khi SME lại vận hành theo mô hình linh hoạt, quy mô nhỏ và dòng tiền quay vòng nhanh nhưng thiếu tài sản thế chấp cũng như hệ thống quản trị bài bản.

Tình trạng mất cân đối thông tin giữa ngân hàng và doanh nghiệp hiện vẫn khá phổ biến. Khi chưa có đủ thông tin để đánh giá chính xác hoạt động và sức khỏe tài chính của doanh nghiệp, ngân hàng phải thận trọng trước rủi ro tín dụng và tài sản bảo đảm trở thành một “tấm đệm” an toàn.

Do vậy, khi có dữ liệu minh bạch về giao dịch, hóa đơn điện tử… ngân hàng có thể đánh giá sát hơn khả năng tạo dòng tiền, nhu cầu vốn và khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Dữ liệu cũng giúp xác định đúng nhu cầu giải ngân, kiểm soát mục đích sử dụng vốn và chủ động hơn trong quản lý dòng tiền, thu hồi nợ.

Nói như vậy không có nghĩa tài sản bảo đảm mất vai trò, nhưng khi dữ liệu đủ tốt và minh bạch, mức độ phụ thuộc vào tài sản bảo đảm có thể giảm. Khi ấy, cách tiếp cận tín dụng có thể chuyển dần từ câu hỏi “doanh nghiệp có gì để thế chấp” sang “doanh nghiệp tạo ra dòng tiền như thế nào?".

Vậy theo ông, cho vay dựa trên dữ liệu không đơn thuần là một lựa chọn về công nghệ, mà ngày càng trở thành yêu cầu của quá trình chuyển đổi số hoạt động tín dụng?

Điều này càng có ý nghĩa với SME, doanh nghiệp mới thành lập hoặc khởi nghiệp vốn thường gặp bất lợi nếu việc đánh giá tín dụng chủ yếu dựa vào lịch sử tài chính và tài sản bảo đảm.

Quyết định số 3579/QĐ-NHNN phê duyệt Chiến lược chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2030. Theo đó, chiến lược đã đặt ra những mục tiêu cụ thể đối với quá trình số hóa hoạt động ngân hàng, trong đó có mục tiêu 50% ngân hàng số hóa 100% quy trình cho vay nhỏ lẻ, giá trị nhỏ của khách hàng cá nhân. Đồng thời, dữ liệu được xác định là nền tảng cốt lõi, tài sản quan trọng và nguồn lực chiến lược của quá trình chuyển đổi số ngành Ngân hàng.

Một căn cứ đáng chú ý khác là Nghị định số 94/2025/NĐ-CP của Chính phủ về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025. Nghị định tạo hành lang thử nghiệm cho các giải pháp như chấm điểm tín dụng, chia sẻ dữ liệu qua Open API (Giao diện lập trình ứng dụng mở) và cho vay ngang hàng (P2P Lending). Đây đều là những mô hình gắn chặt với khả năng kết nối, xử lý và khai thác dữ liệu.

Sự phát triển của các mô hình công nghệ tài chính (Fintech) cũng tạo thêm sức ép cạnh tranh đối với ngân hàng. Trong đó, P2P Lending sử dụng nền tảng công nghệ để kết nối trực tiếp bên có vốn với bên có nhu cầu vay, đồng thời khai thác dữ liệu phục vụ kết nối và hoạt động cho vay.

Khi những mô hình mới có khả năng cung cấp dịch vụ theo hướng số hóa và dựa nhiều hơn vào dữ liệu, các ngân hàng cũng phải đẩy nhanh số hóa quy trình, nâng cao năng lực khai thác dữ liệu trong đánh giá và cấp tín dụng; nếu không sẽ đứng trước sức ép cạnh tranh ngày càng lớn từ các công ty Fintech.

Việt Nam cần làm gì để dữ liệu có thể trở thành cơ sở đủ tin cậy, giúp ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng, thưa ông?

Trước hết, chất lượng dữ liệu là yếu tố quan trọng. Dù ngân hàng có thể xây dựng các mô hình hỗ trợ, thậm chí tự động ra quyết định cho vay, nhưng dữ liệu đầu vào không tốt thì kết quả khó chính xác. Vì vậy, dữ liệu phải bảo đảm “Đúng - Đủ - Sạch - Sống”, sau đó tiến tới “Thống nhất - Dùng chung”. Điều này đòi hỏi dữ liệu được cập nhật liên tục và có sự kết nối, chia sẻ giữa các nguồn như thuế, hải quan, ngân hàng...

Bên cạnh đó, ngân hàng cần có khung quản trị mô hình, thực hiện kiểm định ngược bằng dữ liệu lịch sử và định kỳ đánh giá khả năng dự báo để kịp thời điều chỉnh khi cần thiết.

Một yêu cầu quan trọng khác là bảo vệ dữ liệu cá nhân. Khi sử dụng thông tin của chủ sở hữu, người đại diện doanh nghiệp để thẩm định, ngân hàng phải minh bạch về việc sử dụng dữ liệu và có sự đồng ý của khách hàng. Dữ liệu phục vụ đánh giá, xây dựng hay huấn luyện mô hình cũng cần được chuẩn hóa, mã hóa, bảo đảm không thể truy ngược thông tin định danh. Như vậy, cho vay dựa trên dữ liệu chỉ thực sự hiệu quả khi chất lượng và khả năng chia sẻ dữ liệu, quản trị mô hình và bảo vệ dữ liệu cá nhân được bảo đảm đồng bộ.

Khi các tổ chức tài chính ngày càng ứng dụng dữ liệu trong đánh giá tín dụng, những dữ liệu này cũng góp phần mở rộng cơ hội tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức, đặc biệt đối với các SME chưa có nhiều tài sản thế chấp hoặc lịch sử tín dụng đầy đủ. Thanh toán số không chỉ giúp doanh nghiệp chuẩn hóa hoạt động, nâng cao tính minh bạch mà còn tạo nền tảng để mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn và tăng cường năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế số.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Tin cùng chuyên mục

Cần Thơ đưa sáng tạo kỹ thuật vào sản xuất

Toàn bộ quy trình tại JICOWOOD từ tiếp nhận đơn hàng, thiết kế, sản xuất, kiểm soát chất lượng, tồn kho, giao hàng đều được kết nối trên nền tảng dữ liệu số, giúp dễ dàng theo dõi, truy xuất và quản lý theo thời gian thực. (Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN)

Khơi nguồn từ Hội thi "Sáng tạo Kỹ thuật", nhiều giải pháp đạt giải tại Cần Thơ đã được ứng dụng thực tế, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị thương mại cho doanh nghiệp. Kết quả cho thấy sự chủ động đầu tư công nghệ, chuyển đổi số và phát triển sản phẩm mới của khối kinh tế tư nhân, bám sát tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 68-NQ/TW.

Làm chủ công nghệ để phát triển kinh tế tầm thấp

Làm chủ công nghệ để phát triển kinh tế tầm thấp

Làm chủ công nghệ lõi, phát triển sản phẩm và đưa vào ứng dụng thực tiễn là những yêu cầu được đặt ra để Việt Nam từng bước hình thành và phát triển kinh tế tầm thấp. Nội dung này được các chuyên gia, doanh nghiệp trao đổi tại Diễn đàn “Phát triển kinh tế tầm thấp và thúc đẩy ứng dụng công nghệ vũ trụ tại Việt Nam” diễn ra ngày 2/10 tại Hà Nội.

Công nghệ nối dài cánh tay cho hàng Việt Nam

Công nghệ nối dài cánh tay cho hàng Việt Nam

Không chỉ đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử, công nghệ đang mở rộng cách doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận người mua quốc tế thông qua dữ liệu sản phẩm, gian hàng số và kết nối giao thương trực tuyến. Cùng với đó, mô hình “xuất khẩu tại chỗ”, TP. Hồ Chí Minh đang tích cực kết nối nhà mua hàng quốc tế đến các nhà máy, vùng nguyên liệu, nối dài cánh tay cho hàng Việt vươn xa.

Đổi mới sáng tạo là con đường nâng cao năng lực tự chủ công nghệ

Đổi mới sáng tạo là con đường nâng cao năng lực tự chủ công nghệ

Việt Nam được Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) tiếp tục nâng hạng lên thứ 43 trong Bảng xếp hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2026 đã thể hiện sự đánh giá khách quan, ghi nhận hành trình nỗ lực của Việt Nam từng bước xây dựng năng lực đổi mới sáng tạo. Trao đổi ngay sau khi WIPO công bố GII 2026, ông Nguyễn Đắc Bình Minh, Phó Viện trưởng Viện Đổi mới sáng tạo quốc gia, nhấn mạnh nhữn

“Điểm sáng” chuyển đổi số trong hoạt động tín dụng chính sách ở Lào Cai

Tổ trưởng Tổ Tiết kiệm và vay vốn (TK&VV) sử dụng phần mềm trên điện thoại để giao dịch tại điểm giao dịch xã Lùng Thần, Lào Cai. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, Chi nhánh NHCSXH tỉnh Lào Cai nâng cấp hạ tầng CNTT, số hóa nghiệp vụ tín dụng, chuẩn hóa dữ liệu hộ vay, gửi tin nhắn SMS đối chiếu số dư và triển khai giải pháp không dùng tiền mặt, nộp lãi, tiết kiệm điện tử. Đơn vị vận hành hệ thống Intellect Core Banking mới để tối ưu quản lý, đồng thời phát động phong trào “bình dân học vụ số” phổ cập công nghệ trên địa bàn.