Công nghiệp sinh học – động lực mới cho nông nghiệp xanh
Bộ Nông nghiệp và Môi trường triển khai chương trình phát triển công nghiệp sinh học giai đoạn 2026–2035, tập trung làm chủ công nghệ tiên tiến, phát triển doanh nghiệp và thương mại hóa sản phẩm.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Chương trình thực hiện Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường, đặt mục tiêu thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa các sản phẩm công nghệ sinh học, từng bước hình thành ngành kinh tế - kỹ thuật có quy mô công nghiệp, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của ngành.
Theo Quyết định số 4066/QĐ-BNNMT, Chương trình được triển khai nhằm cụ thể hóa Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 1466/QĐ-TTg ngày 31/7/2026. Các nhiệm vụ được thực hiện trong giai đoạn 2026–2035, tập trung vào hoàn thiện cơ chế, chính sách; phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; xây dựng tiềm lực nghiên cứu; phát triển doanh nghiệp và mở rộng hợp tác quốc tế.
Chương trình xác định công nghiệp sinh học có vai trò nền tảng, góp phần đổi mới mô hình tăng trưởng ngành nông nghiệp và môi trường dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trọng tâm là từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp và sản phẩm công nghệ sinh học có sức cạnh tranh, phục vụ nông nghiệp xanh, tuần hoàn và bền vững.
*Ưu tiên nghiên cứu, làm chủ công nghệ sinh học tiên tiến
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp, bảo vệ môi trường. Bộ Nông nghiệp và Môi trường định hướng tập trung làm chủ các công nghệ chiến lược như công nghệ gen thế hệ mới, công nghệ chỉnh sửa gen; đồng thời phát triển các sản phẩm có khả năng ứng dụng rộng rãi, đáp ứng yêu cầu sản xuất và thị trường.
Trong lĩnh vực trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi và thủy sản, Chương trình đặt mục tiêu phát triển 10–15 giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản thế hệ mới có năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng kháng bệnh, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải. Các giống mới được tạo ra từ công nghệ tế bào, chỉnh sửa gen và chọn giống chính xác, hướng tới chuyển giao, nhân rộng vào sản xuất hàng hóa, phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Cùng với phát triển giống, Chương trình chú trọng nghiên cứu, sản xuất từ 5–10 loại vaccine, chế phẩm sinh học thế hệ mới phục vụ chăn nuôi, thú y, thủy sản, trồng trọt và bảo vệ thực vật. Các sản phẩm này hướng đến ứng dụng trong phòng, chống dịch bệnh, quản lý sinh vật gây hại, kiểm định, kiểm dịch và đánh giá chất lượng giống vật nuôi, thủy sản.
Công nghệ sinh học cũng được định hướng ứng dụng trong chăm sóc sức khỏe cây trồng, cải thiện chất lượng đất, xử lý nước tưới và môi trường sản xuất; bảo quản, chế biến sau thu hoạch, góp phần phát triển nông nghiệp an toàn, nông nghiệp hữu cơ.
Trong lĩnh vực môi trường, các nhiệm vụ tập trung nghiên cứu, chuyển giao công nghệ phục vụ ngăn ngừa, giảm thiểu suy thoái, phục hồi chất lượng môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học. Việc sản xuất nhiên liệu sinh học, vật liệu sinh học thân thiện với môi trường và khai thác hiệu quả phụ phẩm nông nghiệp cũng được khuyến khích nhằm thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Để bảo đảm an toàn trong nghiên cứu và ứng dụng, Bộ đặt ra nhiệm vụ hoàn thiện khung đánh giá, quản lý rủi ro đối với sản phẩm công nghệ gen; chuẩn hóa hệ thống giám định, phát hiện sinh vật biến đổi gen; thiết lập cơ chế giám sát sau cấp phép, phòng ngừa và xử lý sự cố an toàn sinh học. Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với sản phẩm công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường cũng sẽ được rà soát, xây dựng và hoàn thiện.
*Phát triển doanh nghiệp, nâng cao năng lực nghiên cứu
Bên cạnh nhiệm vụ nghiên cứu và ứng dụng, Chương trình chú trọng xây dựng tiềm lực khoa học, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và cơ sở vật chất phục vụ công nghiệp sinh học. Mục tiêu đặt ra là đào tạo, bồi dưỡng 500 cán bộ, nghiên cứu viên trình độ cao về công nghệ sinh học và 2.000 lượt kỹ thuật viên, cán bộ quản lý thuộc phạm vi Bộ.

Về hạ tầng nghiên cứu, Bộ dự kiến đầu tư, nâng cấp 5 phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ sinh học đạt trình độ tiên tiến của khu vực ASEAN. Các phòng thí nghiệm tập trung vào những lĩnh vực như công nghệ gen, công nghệ tế bào thực vật, chăn nuôi, thủy sản; thú y, chẩn đoán, xét nghiệm bệnh, kiểm tra chất lượng vắc xin và chế phẩm sinh học; công nghệ vi sinh vật, enzyme và protein.
Ngoài ra, Chương trình đặt mục tiêu đầu tư, nâng cấp 5 phòng thí nghiệm trung tâm hoặc phòng thí nghiệm kiểm định chất lượng nông, lâm, thủy sản, đánh giá an toàn sinh học đối với sản phẩm ứng dụng công nghệ sinh học. Các cơ sở này được định hướng đạt tiêu chuẩn quốc tế hoặc chuẩn hóa theo tiêu chuẩn phòng thí nghiệm được công nhận, góp phần nâng cao năng lực kiểm định, đánh giá chất lượng sản phẩm.
Một nhiệm vụ đáng chú ý khác là phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu và thông tin quốc gia về công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Hệ thống này sẽ được kết nối, liên thông với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, đồng thời phát triển nền tảng số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo phục vụ nghiên cứu, đánh giá, quản lý, truy xuất nguồn gốc và thương mại hóa sản phẩm. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu phải bảo đảm an toàn thông tin trong quá trình xây dựng, vận hành và khai thác.
Để công nghiệp sinh học trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật, Bộ đặt mục tiêu số doanh nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học tăng tối thiểu 50%. Cùng với đó, các sản phẩm công nghệ sinh học cần được hỗ trợ xây dựng thương hiệu, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và thương mại hóa vào sản xuất. Việc hình thành chuỗi nghiên cứu – sản xuất – kinh doanh được chú trọng, gắn kết viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, vùng sản xuất và thị trường.
Chương trình cũng khuyến khích phát triển cơ chế liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp; thúc đẩy hợp tác công tư, thu hút nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ. Các doanh nghiệp được hỗ trợ tiếp cận công nghệ mới, mở rộng sản xuất ở quy mô công nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị sản phẩm.
Trong hợp tác quốc tế, Bộ định hướng tăng cường kết nối với các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế; ưu tiên tiếp nhận, chuyển giao và làm chủ công nghệ tiên tiến, công nghệ chiến lược, dây chuyền, thiết bị và quy trình sản xuất phù hợp với điều kiện Việt Nam. Nguồn lực từ vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay ưu đãi, viện trợ không hoàn lại và các nguồn hợp pháp khác sẽ được huy động, đa dạng hóa để phục vụ phát triển công nghiệp sinh học.
Vụ Khoa học và Công nghệ được giao làm đầu mối tham mưu, theo dõi, đôn đốc và tổng hợp tình hình thực hiện Chương trình. Các đơn vị thuộc Bộ căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao để xây dựng kế hoạch cụ thể, chủ động phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp trong quá trình triển khai.
Với định hướng gắn nghiên cứu khoa học với nhu cầu thực tiễn, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm, Chương trình kỳ vọng tạo nền tảng phát triển công nghiệp sinh học theo quy mô công nghiệp, góp phần nâng cao giá trị sản xuất, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và thúc đẩy tăng trưởng xanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường./.
Tin cùng chuyên mục
Quét mã QR tố giác tội phạm, biện pháp mới ở vùng biên
Thực hiện nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Bộ đội biên phòng tỉnh Lào Cai đã tiên phong trong chuyển đổi số quản lý cửa khẩu và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số vùng biên giới. Những kết quả bước đầu đặt ra yêu cầu Kết quả chuyển đổi số phải được thể hiện bằng những lợi ích cụ thể đối với người dân và doanh nghiệp.
Anthropic đề xuất tòa án ngăn phát hành mô hình AI nguy hiểm
Chuyển đổi số tạo động lực phát triển nông nghiệp công nghệ cao
Hiện thực hóa các thỏa thuận hợp tác công nghệ Việt Nam - Ấn Độ
Doanh nghiệp Việt nâng chuẩn chất lượng để vươn ra toàn cầu
Số hóa hồ sơ đảng viên - bước chuyển biến lớn trong công tác quản lý
Việc đẩy mạnh số hóa và tạo lập hồ sơ đảng viên điện tử đang được triển khai mạnh mẽ tại nhiều địa phương, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Nhờ chuẩn hóa, làm sạch và đồng bộ dữ liệu ,các cấp ủy có thể quản lý, tra cứu thông tin chính xác, nhanh chóng, từ đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, góp phần thúc đẩy cải cách hành chính trong toàn hệ thống chính trị.
Chuyển đổi số đưa văn hóa 54 dân tộc Việt Nam đến gần công chúng
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã và đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và các hình thức tương tác trong trưng bày, giáo dục, giới thiệu di sản văn hóa tới công chúng. Việc kết hợp công nghệ với hiện vật, tư liệu và các hoạt động giáo dục góp phần đổi mới phương thức hoạt động của Bảo tàng, nâng cao hiệu quả bảo tồn, phát huy giá trị di sản,.
6 nhóm đối tượng được giảm 50% phí khai thác dữ liệu quốc gia
Chính phủ ban hành chương trình thu hút, trọng dụng nhân tài
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Nghị quyết số 336 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 105-KL/TW, ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững.
Xây dựng "lá chắn thép" ứng phó với các nguy cơ trên không gian mạng
Trong kỷ nguyên số hóa và kết nối toàn cầu, không gian mạng mang lại động lực phát triển mạnh mẽ cho kinh tế - xã hội nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn những mối đe dọa an ninh mạng. Việc xây dựng "lá chắn thép" là yêu cầu cấp thiết là yêu cầu cấp thiết đòi hỏi sự chung tay của người dân, doanh nghiệp và chính quyền các cấp nhằm ể xây dựng không gian mạng an toàn nhân văn.