Trao kỹ năng để trẻ em miền núi tự tin bước vào không gian mạng
Giáo dục an toàn số cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số và miền núi cần được địa phương hóa, phát huy vai trò chủ động của chính học sinh và xây dựng mạng lưới hỗ trợ bền vững tại cộng đồng.
Bà Nguyễn Phương Linh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Phát triển bền vững (MSD United Way Việt Nam) đã trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Tin tức và Dân tộc xung quanh Các giải pháp để bảo vệ trẻ em Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trước những nguy cơ trên môi trường số..
Được biết mới đây, đơn vị vừa tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn kỹ năng an toàn trên không gian mạng cho học sinh tại hai trường phổ thông ở Lào Cai trong khuôn khổ chương trình “Có vaccine số, tự tin khám phá – làm chủ thế giới số". Bà nhận thấy việc sử dụng Internet của trẻ em tại hai trường nói riêng và khu vực miền núi hiện nay như thế nào?
Theo tôi, điều đáng chú ý là trẻ em ở miền núi cũng đang lớn lên trong một thế giới số, với nhu cầu học tập, kết nối, giải trí và thể hiện bản thân không khác biệt quá nhiều so với bạn bè ở đô thị. Vì vậy, khi nói đến trẻ em vùng dân tộc thiểu số và miền núi, chúng ta không nên chỉ nhìn từ góc độ những hạn chế về điều kiện tiếp cận công nghệ, mà cần quan tâm nhiều hơn đến chất lượng và sự an toàn trong trải nghiệm số của các em.

Qua các hoạt động tương tác tại hai trường ở Lào Cai, điều khiến tôi ấn tượng là các em không chỉ quan tâm đến việc bảo vệ tài khoản, dữ liệu cá nhân mà còn có những suy nghĩ rất thực tế về ảnh hưởng của công nghệ đối với sức khỏe, cảm xúc và cuộc sống hằng ngày. Các em cùng thảo luận về việc sử dụng điện thoại trước giờ ngủ, sự xao nhãng từ thông báo liên tục hay áp lực so sánh bản thân trên mạng xã hội.
Đặc biệt, khi được hỏi cha mẹ có thể đồng hành như thế nào, chính các em đã đề xuất những giải pháp rất gần gũi như cả gia đình cùng tập thể dục, cùng sử dụng ứng dụng nhắc giờ hoặc xây dựng cam kết chung về thời gian sử dụng điện thoại. Một học sinh chia sẻ: “Em muốn được học cách nhận ra nội dung nào phù hợp với mình, và nội dung nào khiến mình thấy không thoải mái khi lên mạng”.
Những chia sẻ này cho thấy một vấn đề quan trọng: biết sử dụng mạng xã hội, tìm kiếm thông tin hay tiếp cận các công cụ công nghệ không đồng nghĩa với việc các em đã có đầy đủ kỹ năng tự bảo vệ, kiểm chứng thông tin và sử dụng Internet cân bằng, lành mạnh. Nhưng đồng thời, các em cũng có khả năng nhận diện vấn đề, suy nghĩ độc lập và đề xuất những giải pháp sáng tạo từ chính trải nghiệm của mình, nếu được trao cơ hội và lắng nghe.

Tôi cho rằng chúng ta không nên nhìn nhận trẻ em miền núi chỉ là nhóm cần được hỗ trợ. Các em có những trải nghiệm, góc nhìn và bản sắc riêng, hoàn toàn có thể trở thành những người chủ động lan tỏa kiến thức và hành vi số tích cực trong trường học, gia đình và cộng đồng. Điều quan trọng là tạo điều kiện để các em được tiếp cận kiến thức phù hợp, được thực hành kỹ năng và được tham gia xây dựng những giải pháp liên quan đến chính mình.
Tất nhiên, những quan sát tại hai trường chưa thể đại diện cho toàn bộ trẻ em khu vực miền núi. Tuy nhiên, điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là thách thức của giáo dục số ngày nay không chỉ nằm ở việc trẻ em có được tiếp cận Internet hay không, mà còn ở việc các em có đủ kiến thức, kỹ năng, sự tự tin và hỗ trợ để sử dụng Internet an toàn, lành mạnh và thực sự làm chủ công nghệ hay không.
Đó cũng chính là tinh thần của thông điệp “Có vaccine số, tự tin khám phá – làm chủ thế giới số”.
Bà đánh giá như thế nào về nguy cơ lừa đảo, các loại bẫy trên không gian mạng đối với trẻ em vùng dân tộc thiểu số và miền núi?
Theo tôi, nguy cơ trẻ em vùng dân tộc thiểu số và miền núi bị lừa đảo, dụ dỗ, xâm hại trên không gian mạng là rất đáng quan tâm, đặc biệt khi các thủ đoạn ngày càng tinh vi, trong khi điều kiện tiếp cận kiến thức, kỹ năng an toàn số và các dịch vụ hỗ trợ giữa các địa bàn còn có sự chênh lệch.

Các em có thể đối mặt với nhiều loại bẫy tương tự trẻ em ở đô thị, nhưng một số thủ đoạn có thể đặc biệt nguy hiểm khi khai thác hoàn cảnh và nhu cầu của trẻ. Chẳng hạn, những lời mời làm việc nhẹ, thu nhập cao, cơ hội kiếm tiền trực tuyến, nhận học bổng hoặc quà tặng có thể được sử dụng để dụ dỗ, lừa đảo, thậm chí dẫn đến nguy cơ bóc lột và mua bán người. Bên cạnh đó là các hình thức giả danh người quen, kết bạn để tạo lòng tin, dụ dỗ chia sẻ hình ảnh riêng tư, thông tin cá nhân, sau đó đe dọa, tống tiền hoặc ép buộc trẻ thực hiện những yêu cầu không an toàn.
Đáng lo ngại hơn, những chiếc bẫy này thường không bắt đầu bằng sự đe dọa mà bằng lời hứa hẹn, sự quan tâm hoặc một mối quan hệ tưởng như đáng tin cậy. Với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, hình ảnh, giọng nói và video giả mạo cũng có thể được lợi dụng để tăng tính thuyết phục của các thủ đoạn lừa đảo.
Điểm cần đặc biệt lưu ý ở một số địa bàn miền núi không phải là trẻ em ít hiểu biết hơn, mà là các em có thể gặp nhiều rào cản hơn trong việc nhận diện nguy cơ và tìm kiếm sự hỗ trợ. Chẳng hạn, khoảng cách về kỹ năng số, rào cản ngôn ngữ, khả năng tiếp cận thông tin phù hợp hoặc việc cha mẹ, người chăm sóc chưa quen với các nền tảng mà trẻ đang sử dụng có thể khiến những dấu hiệu nguy hiểm không được phát hiện và xử lý kịp thời.
Vì vậy, tôi cho rằng cần nhìn nhận đây không chỉ là vấn đề phòng chống lừa đảo trên mạng, mà còn là vấn đề bảo vệ trẻ em và bảo đảm công bằng trong tiếp cận an toàn số. Trẻ em ở bất kỳ địa bàn nào cũng cần được trang bị năng lực tự bảo vệ, biết lên tiếng và có những người, những dịch vụ hỗ trợ đáng tin cậy khi gặp nguy cơ.
Từ những đặc điểm đó, đơn vị và các đối tác của chương trình có những tư vấn, giải pháp tuyên truyền, hướng dẫn kỹ năng nhận diện và phòng tránh như thế nào, thưa bà?
Giáo dục an toàn số cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số và miền núi cần được địa phương hóa, phát huy vai trò chủ động của chính học sinh và xây dựng mạng lưới hỗ trợ bền vững tại cộng đồng, thay vì áp dụng một mô hình tuyên truyền đồng loạt.
Trước hết, địa phương hóa không chỉ là điều chỉnh ngôn ngữ, mà còn là lựa chọn nội dung, tình huống và phương pháp phù hợp với văn hóa, điều kiện tiếp cận công nghệ và trải nghiệm thực tế của trẻ em. Cần lắng nghe học sinh, giáo viên và cộng đồng địa phương để xác định những vấn đề các em thực sự quan tâm, từ đó thiết kế hoạt động gần gũi, dễ hiểu và có thể áp dụng trong cuộc sống.

Thứ hai, chúng tôi đặc biệt coi trọng mô hình giáo dục đồng đẳng (peer education), trong đó học sinh và các Đại sứ Vaccine Số không chỉ tiếp nhận kiến thức mà còn trở thành những người chia sẻ, dẫn dắt hoạt động và lan tỏa thông điệp tới bạn bè. Khi được trao cơ hội bày tỏ quan điểm và đề xuất giải pháp, các em có thể sáng tạo những hình thức truyền thông mang bản sắc riêng, phù hợp với ngôn ngữ, văn hóa và trải nghiệm của mình. Quan trọng hơn, quá trình ấy giúp các em nhận thức rằng mình không chỉ là người sử dụng công nghệ hay đối tượng cần được bảo vệ, mà còn là những công dân số có tiếng nói, có trách nhiệm và có khả năng góp phần tạo ra sự thay đổi tích cực.
Thứ ba, cần nâng cao năng lực cho giáo viên, cha mẹ và các lực lượng hỗ trợ tại địa phương để kiến thức, kỹ năng an toàn số tiếp tục được thực hành và lan tỏa sau mỗi hoạt động, đồng thời bảo đảm trẻ em luôn có những người đồng hành đáng tin cậy và biết tìm kiếm sự giúp đỡ khi cần thiết.
Đây cũng là cách tiếp cận mà MSD United Way Vietnam theo đuổi trong các chương trình bảo vệ và thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em, đặc biệt thông qua Chiến dịch Vaccine Số được triển khai cùng TikTok Việt Nam từ năm 2021. Tiếp nối hành trình đó, Teen Safety School Tour 2026 – An toàn số cho em, do Hiệp hội An ninh mạng Quốc gia (NCA), TikTok Việt Nam và MSD United Way Vietnam đồng tổ chức, tập trung vào ba trụ cột An toàn số – Sức khỏe số – Thiếu niên nói.
Chúng tôi tin rằng an toàn số giúp các em biết tự bảo vệ, sức khỏe số giúp các em sử dụng công nghệ cân bằng và lành mạnh, còn tiếng nói thiếu niên giúp các em chuyển từ người tiếp nhận kiến thức thành người chủ động tham gia kiến tạo giải pháp. Khi ba yếu tố này được kết hợp, giáo dục an toàn số không chỉ dừng lại ở việc phòng tránh rủi ro mà còn góp phần hình thành một thế hệ công dân số tự tin, bản lĩnh, sáng tạo và có trách nhiệm với bản thân cũng như cộng đồng.
Chúng tôi mong muốn mỗi điểm trường không chỉ là nơi tiếp nhận kiến thức, mà còn trở thành một hạt nhân lan tỏa, nơi chính học sinh cùng thầy cô và cộng đồng xây dựng môi trường số an toàn, lành mạnh và phù hợp với địa phương mình.
Xin trân trọng cảm ơn bà!
Tin cùng chuyên mục
ChatGPT siết thông tin về vũ khí, tăng biện pháp ngăn chặn bạo lực
OpenAI thông báo sẽ siết chặt việc cung cấp thông tin về vũ khí trên ChatGPT đối với người dùng dưới 18 tuổi, đồng thời tăng cường giám sát các cuộc trò chuyện có dấu hiệu liên quan đến bạo lực. Các biện pháp mới nhằm hạn chế nguy cơ gây hại ngoài đời thực, bảo vệ thanh thiếu niên và nâng cao trách nhiệm của các nền tảng AI đối với an toàn người dùng.
Báo chí sắp có “lá chắn” chung trước làn sóng thu thập dữ liệu
OpenAI, Google, Microsoft và Anthropic cam kết triển khai cơ chế chung, cho phép các cơ quan báo chí và chủ sở hữu website từ chối sử dụng nội dung để huấn luyện AI. Sáng kiến được kỳ vọng tăng quyền kiểm soát của các nhà xuất bản đối với nội dung trên môi trường số, trong bối cảnh tranh chấp về thu thập dữ liệu và các vụ kiện liên quan đến bản quyền ngày càng gia tăng.
Mỹ điều tra vụ tấn công mạng nhằm vào sàn Binance
Giải pháp công nghệ trong cuộc chiến chống tin giả
Theo phóng viên TTXVN tại Nam Phi, Hội đồng Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp Nam Phi (CSIR) vừa phát đi lời kêu gọi các đối tác tăng cường hợp tác ứng dụng công nghệ để ngăn chặn vấn nạn thông tin sai lệch. Động thái này diễn ra trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi hoàn toàn cách thức tạo lập, chia sẻ và tiếp nhận thông tin, đặc biệt là nguy cơ thao túng dư luận trước thềm các
Khơi dậy vai trò tiên phong của sinh viên phòng, chống lừa đảo trực tuyến
Google tung “quân bài” mới trong cuộc đua an ninh mạng
Đối phó với AI, giáo viên Mỹ đưa bài viết và vấn đáp trở lại lớp học
Nhà xuất bản Đan Mạch siết việc dùng AI
Đà Nẵng chuyển đổi số thư viện, mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức
Tính đến tháng 10/2026, Thư viện Đà Nẵng đã số hóa hơn 2.700 tên tài nguyên (gần 600.000 trang tài liệu); triển khai tra cứu, mượn trả trực tuyến và hệ thống trả sách tự động 24/7. Cùng việc chuẩn hóa, liên thông dữ liệu sau hợp nhất và các giải pháp công nghệ đã giúp nâng cao chất lượng phục vụ, mở rộng văn hóa đọc đến các vùng xa.