Việt Nam cần "tự chủ mở" để nâng vị thế trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo
Tiến sỹ Nguyễn Thanh Hải, Giám đốc điều hành AIDATACY, doanh nghiệp công nghệ sâu của Pháp trao đổi với phóng viên TTXVN về những lựa chọn chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo.
Hữu Chiến
20/07/2026
14:23
(Nguồn: Vietnam+)
Chủ quyền công nghệ không phải là sở hữu toàn bộ hệ thống, mà là xác định được lớp công nghệ nào cần kiểm soát và bảo vệ bằng những cơ chế phù hợp.
Đó là nhận định của Tiến sỹ Nguyễn Thanh Hải, Giám đốc điều hành AIDATACY, doanh nghiệp công nghệ sâu (deep-tech) của Pháp trong lĩnh vực an ninh mạng và mã hóa dữ liệu trong cuộc trao đổi với phóng viên TTXVN tại Paris về những lựa chọn chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo (AI).
Theo Tiến sỹ Nguyễn Thanh Hải, khái niệm chủ quyền công nghệ theo nghĩa tuyệt đối gần như không tồn tại. Mỹ vẫn phụ thuộc vào năng lực sản xuất bán dẫn của Đài Loan (Trung Quốc), châu Âu phụ thuộc vào hạ tầng điện toán đám mây (cloud) của các tập đoàn công nghệ Mỹ, còn Trung Quốc sau nhiều năm đầu tư vẫn chưa hoàn toàn làm chủ công nghệ chip tiên tiến. Vì vậy, điều quan trọng là xác định đâu là những lớp công nghệ mang tính chiến lược cần nắm giữ.
Về bức tranh hạ tầng số trên thế giới, Tiến sỹ Nguyễn Thanh Hải cho biết hiện 3 tập đoàn AWS, Microsoft Azure và Google Cloud đang kiểm soát khoảng 65% thị trường điện toán đám mây toàn cầu, đồng nghĩa phần lớn dữ liệu số của thế giới đang vận hành trên hạ tầng do doanh nghiệp Mỹ sở hữu.
Theo ông, bất kỳ quốc gia nào không có chiến lược kiểm soát lớp dữ liệu đang vận hành trên "đất thuê kỹ thuật số": hạ tầng do người khác sở hữu, luật chơi do người khác đặt ra. Ông cho rằng điều này đặt ra yêu cầu đối với các quốc gia trong việc xác định những lớp dữ liệu quan trọng cần được kiểm soát, bởi khi dữ liệu vận hành trên hạ tầng do bên khác sở hữu, vấn đề không chỉ nằm ở chi phí hay hiệu quả kinh tế mà còn liên quan đến khả năng bảo vệ dữ liệu và quyền kiểm soát công nghệ.
Cũng theo Tiến sỹ Nguyễn Thanh Hải, kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy có 3 cách tiếp cận không mang lại kết quả như mong muốn.
Thứ nhất là chỉ tập trung xây dựng các quy định quản lý mà thiếu nền tảng công nghệ. Liên minh châu Âu (EU) đã xây dựng những khuôn khổ pháp lý tiên tiến nhất thế giới về bảo vệ dữ liệu và quản trị AI như Quy định chung về bảo vệ dữ liệu (GDPR) ban hành năm 2018 hay Đạo luật AI, ban hành năm 2024, nhưng vẫn chưa tạo được các nền tảng công nghệ đủ sức cạnh tranh với các "ông lớn" của Mỹ.
Thứ hai là theo đuổi mục tiêu tự chủ toàn diện. Theo Tiến sỹ Nguyễn Thanh Hải, ngay cả những nền kinh tế lớn cũng khó có thể tự xây dựng toàn bộ chuỗi giá trị từ chip, điện toán đám mây đến AI.
Thứ ba là phụ thuộc công nghệ một cách thụ động. Ông cho rằng sự phụ thuộc này không xuất hiện sau một quyết định lớn, mà tích lũy từ hàng nghìn lựa chọn ngắn hạn như sử dụng hạ tầng, phần mềm hay dịch vụ nước ngoài vì nhanh và thuận tiện hơn.
Khi nhận ra mức độ phụ thuộc thì việc thay đổi đã trở nên rất khó khăn. Theo ông, đây cũng là rủi ro mà Việt Nam đang đối mặt nếu không có chiến lược kiểm soát theo lớp ngay từ bây giờ.
Theo Tiến sỹ Nguyễn Thanh Hải, Việt Nam không thiếu lợi thế để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu. Lực lượng kỹ sư trẻ, khả năng tiếp nhận công nghệ nhanh cùng vị trí địa chiến lược thuận lợi đang giúp Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn FDI công nghệ.
Tuy nhiên, ông cho rằng Việt Nam hiện vẫn chủ yếu tham gia ở khâu sản xuất và lắp ráp, trong khi các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao hơn như nghiên cứu phát triển (R&D), dữ liệu và hạ tầng số vẫn còn hạn chế.
Một trong những điểm yếu lớn nhất, theo ông, là Việt Nam chưa xây dựng được năng lực kiểm soát lớp mã hóa và quản lý khóa dữ liệu - yếu tố quyết định ai thực sự kiểm soát dữ liệu, bất kể dữ liệu được lưu trữ ở đâu.
Bên cạnh đó, khung pháp lý về AI và dữ liệu vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để tạo niềm tin cho các tập đoàn công nghệ khi đầu tư dài hạn.
Từ kinh nghiệm nghiên cứu và làm việc tại Pháp, Tiến sỹ Nguyễn Thanh Hải cho rằng thay vì theo đuổi mục tiêu tự chủ công nghệ tuyệt đối, các quốc gia có thể cân nhắc cách tiếp cận "tự chủ mở" - kiểm soát những lớp công nghệ chiến lược, đồng thời hội nhập sâu ở các lĩnh vực còn lại.
Đối với Việt Nam, Tiến sỹ Nguyễn Thanh Hải cho rằng để nâng cao vị thế trong cuộc cạnh tranh công nghệ, Việt Nam nên tập trung vào 3 ưu tiên.
Thứ nhất, xây dựng chứng nhận bảo mật cấp quốc gia cho hạ tầng xử lý dữ liệu nhạy cảm, thay vì đầu tư dàn trải để tự phát triển toàn bộ hạ tầng điện toán đám mây.
Thứ hai, Nhà nước cần đưa ra những "đề bài" công nghệ cụ thể trong các lĩnh vực như hệ thống định danh số quốc gia, nền tảng AI trong y tế công cộng hay hạ tầng an ninh mạng cho hệ thống ngân hàng-tài chính. Theo ông, kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy đổi mới sáng tạo thường bắt đầu từ việc Nhà nước tạo ra thị trường đầu tiên thông qua các bài toán thực tế.
Thứ ba, Việt Nam cần sớm hoàn thiện chính sách quốc gia về AI với những quy định rõ ràng về dữ liệu, thử nghiệm công nghệ và trách nhiệm pháp lý.
Đây là những yếu tố mà các tập đoàn công nghệ toàn cầu luôn cân nhắc trước khi quyết định đặt trung tâm nghiên cứu hoặc trung tâm dữ liệu.
Tiến sỹ Nguyễn Thanh Hải nhấn mạnh điều quan trọng của việc Việt Nam cần nhanh chóng hoàn thiện môi trường chính sách và nâng cao năng lực công nghệ cốt lõi./.
Theo Phó Giáo sư Vương Tân Tùng, Học viện Xã hội phát triển và Chính sách công, Đại học Sư phạm Bắc Kinh, trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) và robot hình người đang trở thành hướng phát triển quan trọng của các ngành công nghiệp tương lai, Trung Quốc và Việt Nam có nhiều tiềm năng hợp tác trong nghiên cứu công nghệ, xây dựng chuỗi cung ứng, phát triển ứng dụng và đào tạo nhân lực.
Giới nghiên cứu cảnh báo các chatbot trí tuệ nhân tạo (AI) đang gây nhiễu loạn thông tin trước thềm cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tại Mỹ khi cung cấp thông tin sai lệch cho cử tri.
Xu hướng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) của các doanh nghiệp trên thế giới đang hướng tới hiệu quả thực chất. Ngân hàng Goldman Sachs và Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) dự báo tổng đầu tư toàn cầu vào AI sẽ vượt 1.000 tỷ USD trong năm 2026 và có thể đạt tới 4.000 tỷ USD vào năm 2030.
Từ những ý tưởng sáng tạo đến các sản phẩm công nghệ có khả năng ứng dụng trong thực tiễn, đổi mới sáng tạo đang từng bước trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Đồng Nai, chuỗi sự kiện DIGIFEST 2026 mở ra không gian kết nối giữa khoa học, công nghệ, doanh nghiệp và cộng đồng.
AI có thể viết một câu chuyện giống hệt trải nghiệm của bạn, bắt chước cảm xúc, nỗi sợ và cả những điều thầm kín. Nhưng liệu chúng ta có đủ tinh ý để nhận ra đâu là người thật, đâu là trí tuệ nhân tạo? “Ngoài dữ liệu” – Cuộc thử nghiệm thú vị giữa con người và AI, nơi cảm xúc thật đối đầu với những câu trả lời hoàn hảo.
Dự án tái chế gỉ sắt công nghiệp thành vật liệu xử lý nước thải xuất sắc giành giải Nhất. Kết quả từ cuộc thi khởi nghiệp với chủ đề “Vận hành thành phố thông minh” do Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hải Phòng tổ chức. Các dự án tiêu biểu sẽ được ưu tiên tiếp cận Quỹ Đầu tư mạo hiểm và cơ chế Sandbox để thương mại hóa sản phẩm ra thị trường.
AI có thể viết một câu chuyện giống hệt trải nghiệm của bạn, bắt chước cảm xúc, nỗi sợ và cả những điều thầm kín. Nhưng liệu chúng ta có đủ tinh ý để nhận ra đâu là người thật, đâu là trí tuệ nhân tạo? “Ngoài dữ liệu” – Cuộc thử nghiệm thú vị giữa con người và AI, nơi cảm xúc thật đối đầu với những câu trả lời hoàn hảo.
Dự án tái chế gỉ sắt công nghiệp thành vật liệu xử lý nước thải xuất sắc giành giải Nhất. Kết quả từ cuộc thi khởi nghiệp với chủ đề “Vận hành thành phố thông minh” do Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hải Phòng tổ chức. Các dự án tiêu biểu sẽ được ưu tiên tiếp cận Quỹ Đầu tư mạo hiểm và cơ chế Sandbox để thương mại hóa sản phẩm ra thị trường.
Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng thành phố Đồng Nai năm 2026 thu hút hơn 2.000 giải pháp dự thi, trong đó 99 giải pháp xuất sắc được trao giải. Dịp này, thành phố phát động cuộc thi năm 2027, tiếp tục khuyến khích thế hệ trẻ nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ và phát huy tinh thần đổi mới sáng tạo.
Tỉnh An Giang xác định phát triển nuôi biển là một trong những hướng quan trọng để tái cơ cấu ngành thủy sản của tỉnh theo hướng hiện đại, bền vững, đồng thời tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân ven biển và giảm áp lực khai thác thủy sản.