Chuyên gia đề xuất 3 hướng để Việt Nam phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược
Theo Tiến sỹ Tạ Anh Phương, để danh mục công nghệ chiến lược phát huy hiệu quả, Việt Nam cần ưu tiên phát triển một số sản phẩm có lợi thế cạnh tranh toàn cầu, tham gia sâu vào chuỗi giá trị quốc tế.
Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, mở ra định hướng mới trong phát triển các lĩnh vực công nghệ then chốt của Việt Nam.
Tuy nhiên, bước đi này cũng đặt ra yêu cầu phải có chiến lược lựa chọn và phát triển phù hợp để các sản phẩm công nghệ Việt Nam đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Pháp, Tiến sỹ Tạ Anh Phương, Giám đốc Điều hành (CEO) Seinetime - công ty khởi nghiệp (startup) công nghệ tại Pháp, hoạt động trong lĩnh vực cá nhân hóa dữ liệu và các giải pháp trí tuệ nhân tạo (AI), cho rằng Việt Nam cần tránh nguy cơ phát triển các sản phẩm chỉ phục vụ thị trường nội địa, bởi mô hình này có thể dẫn tới chi phí cao, công nghệ nhanh lạc hậu và khó tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Theo Tiến sỹ Tạ Anh Phương, bài học từ sự thất bại của hệ sinh thái công nghệ được bảo hộ tại Brazil trong giai đoạn 1984-1991 là một cảnh báo đáng chú ý. Khi một quốc gia sử dụng các biện pháp hành chính và chính sách mua sắm công để buộc thị trường sử dụng sản phẩm công nghệ nội địa thiếu sức cạnh tranh, kết quả là sản phẩm có giá thành cao hơn đáng kể so với thế giới, công nghệ tụt hậu nhanh chóng và doanh nghiệp không đủ năng lực xuất khẩu.
Ngược lại, Israel có những mô hình thành công khi lựa chọn hướng đi phù hợp với chuỗi giá trị toàn cầu. Tiến sỹ Tạ Anh Phương dẫn ví dụ công ty an ninh mạng Wiz của Israel, với chiến lược phát triển giải pháp hoạt động trên các nền tảng điện toán đám mây lớn như Amazon Web Services (AWS) và Azure (do Microsoft phát triển) thay vì cạnh tranh trực tiếp để thay thế các nền tảng này. Cách tiếp cận đó giúp Wiz nhanh chóng tạo dựng vị thế và được Google mua lại với giá 23 tỷ USD vào năm 2024.
Từ những kinh nghiệm trên, Tiến sỹ Tạ Anh Phương cho rằng các sản phẩm công nghệ chiến lược của Việt Nam cần vượt qua bài kiểm tra về mức độ phù hợp toàn cầu (Global Relevance Test), hướng tới tạo lập “tính thiết yếu chiến lược” (Strategic Indispensability) để các tập đoàn quốc tế có nhu cầu sử dụng sản phẩm Việt Nam.
Theo đó, Tiến sỹ Tạ Anh Phương đưa ra 3 tiêu chí quan trọng để tạo lợi thế cạnh tranh. Thứ nhất là khai thác lợi thế về đặc thù địa lý và dữ liệu. Việt Nam cần tập trung vào những lĩnh vực mà dữ liệu, tri thức hoặc điều kiện đặc thù trong nước và khu vực Đông Nam Á tạo ra lợi thế khó thay thế, hay còn được biết đến là lợi thế độc quyền. Chẳng hạn, các mô hình AI dành cho tiếng Việt, dữ liệu đặc thù của Đông Nam Á, mô hình nông nghiệp nhiệt đới hay các giải pháp số hóa khu vực có thể trở thành những lĩnh vực mà các tập đoàn công nghệ toàn cầu không dễ dàng tự xây dựng.
Thứ hai là xây dựng vai trò trung tâm kiểm định và tiêu chuẩn công nghệ trong khu vực các nước thuộc Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Theo Tiến sỹ Tạ Anh Phương, Việt Nam có thể hướng tới trở thành “trạm gác kiểm định” cho các sản phẩm công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực an ninh mạng và hạ tầng số, thông qua việc xây dựng các tiêu chuẩn, trung tâm thử nghiệm và chứng nhận chất lượng cho các sản phẩm muốn tham gia thị trường ASEAN.
Thứ ba là tạo ra chi phí chuyển đổi cao đối với khách hàng. Thay vì chỉ phát triển các sản phẩm đầu cuối, doanh nghiệp Việt Nam cần hướng tới các công nghệ nền tảng, linh kiện phụ trợ, module phần mềm nhúng hoặc giải pháp tích hợp sâu vào hệ thống của các tập đoàn lớn. Khi công nghệ Việt Nam được tham gia ngay từ giai đoạn thiết kế ban đầu (co-design), việc thay thế nhà cung cấp sẽ trở nên tốn kém và phức tạp hơn.
Bên cạnh đó, Tiến sỹ Tạ Anh Phương đề xuất áp dụng chiến lược “khách hàng mỏ neo” (Anchor Client). Theo đó, với mỗi sản phẩm công nghệ chiến lược, Nhà nước có thể hỗ trợ kết nối doanh nghiệp trong nước với 2-3 tập đoàn đa quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam để thử nghiệm và ứng dụng sản phẩm ngay từ giai đoạn đầu. Cách làm này không chỉ giúp doanh nghiệp hoàn thiện sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế mà còn tạo ra các hồ sơ năng lực kiểm chứng (Reference Case) để mở rộng ra thị trường toàn cầu. Đây là hướng đi khả thi khi Việt Nam hiện có sự hiện diện của nhiều tập đoàn công nghệ và công nghiệp lớn như LG, Intel, Bosch, Amkor, Unilever, Qualcomm...
Về việc lựa chọn trọng tâm phát triển trong 5 năm tới, Tiến sỹ Tạ Anh Phương cho rằng Việt Nam không nên triển khai đồng loạt toàn bộ 30 sản phẩm công nghệ chiến lược.
Theo Tiến sỹ Tạ Anh Phương, với mức đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) hiện ở mức khoảng 0,4% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tương đương khoảng 1,7 tỷ USD mỗi năm, thấp hơn nhiều so với Hàn Quốc (4,9%) hay Israel (5,6%), Việt Nam cần có sự tập trung cao độ về nguồn lực tài chính, nhân lực và thể chế.
Việc phân tán nguồn lực cho quá nhiều lĩnh vực có thể khiến không sản phẩm nào đạt quy mô và năng lực cạnh tranh quốc tế. Do đó, Việt Nam nên áp dụng nguyên tắc 80:20 (20% dự án tạo ra 80% lợi nhuận), tức phải dồn nguồn lực tài chính, thể chế và con người vào khoảng 5-7 nhóm sản phẩm cốt lõi có khả năng tạo ra phần lớn giá trị, đồng thời hình thành một hệ sinh thái công nghệ có khả năng tự củng cố./.
Tin cùng chuyên mục
Mỹ: Nhu cầu tuyển dụng lập trình viên gia tăng bất chấp tác động của AI
Số lượng tin tuyển dụng lập trình viên phần mềm tại Mỹ đã tăng kể từ tháng 2/2025 - thời điểm ra mắt mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) Claude Code của công ty công nghệ Anthropic - ngay cả khi tổng số tin tuyển dụng lao động nói chung sụt giảm. Điều này đi ngược lại các dự đoán cho rằng AI sẽ nhanh chóng triệt tiêu nhu cầu về nhân sự lập trình.
Diễn đàn Chuyển đổi số quốc gia
Chuyển đổi số phải chuyển mạnh từ xây dựng nền tảng sang giải quyết những bài toán cụ thể của người dân, doanh nghiệp; bảo đảm dữ liệu được tái sử dụng, đầu tư hiệu quả và ứng dụng trí tuệ nhân tạo an toàn. Đây là thông điệp tại Diễn đàn Chuyển đổi số quốc gia năm 2026, diễn ra ngày 9/10 tại Hà Nội.
Trở về thời khắc thiêng liêng bằng công nghệ thực tế ảo
Chương trình trải nghiệm thực tế ảo "Trở về thời khắc thiêng liêng" do Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) phối hợp với UBND phường Cửa Nam và các đơn vị tổ chức, mang đến cho công chúng cơ hội sử dụng công nghệ VR để tái hiện chân thực không gian Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2/9/1945 cùng khoảnh khắc Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập.
Ứng dụng công nghệ giúp lan tỏa giá trị di sản
AI của Anthropic tự bịa tin báo án mạng
Google đưa cuộc đua trung tâm dữ liệu ra ngoài không gian
Thái Lan đặt mục tiêu 3 triệu hộ chiếu AI
Đưa công nghệ mới vào đào tạo nghề, đảm bảo đáp ứng nhu cầu thị trường lao động
Chi phí điện năng khi sử dụng pin lưu trữ năng lượng sẽ ngày càng giảm
Pin lưu trữ năng lượng Mặt Trời là thiết bị tích trữ phần điện năng dư thừa mà hệ thống tấm pin quang điện tạo ra vào ban ngày, sau đó giải phóng lại để sử dụng vào ban đêm, khi trời nhiều mây hoặc trong trường hợp mất điện lưới. Pin lưu trữ năng lượng có thể được coi như một “kho điện dự phòng” giúp các hộ gia đình và doanh nghiệp chủ động về nguồn điện, giảm phụ thuộc hoàn toàn vào điện lưới.