Chuyên gia đề xuất 3 hướng để Việt Nam phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược
Theo Tiến sỹ Tạ Anh Phương, để danh mục công nghệ chiến lược phát huy hiệu quả, Việt Nam cần ưu tiên phát triển một số sản phẩm có lợi thế cạnh tranh toàn cầu, tham gia sâu vào chuỗi giá trị quốc tế.
Hữu Chiến
15/07/2026
18:19
Hoạt động sản xuất với dây chuyền công nghệ tại nhà máy Điện Quang Công Nghệ Cao tại Khu Công Nghệ Cao Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)
Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, mở ra định hướng mới trong phát triển các lĩnh vực công nghệ then chốt của Việt Nam.
Tuy nhiên, bước đi này cũng đặt ra yêu cầu phải có chiến lược lựa chọn và phát triển phù hợp để các sản phẩm công nghệ Việt Nam đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Pháp, Tiến sỹ Tạ Anh Phương, Giám đốc Điều hành (CEO) Seinetime - công ty khởi nghiệp (startup) công nghệ tại Pháp, hoạt động trong lĩnh vực cá nhân hóa dữ liệu và các giải pháp trí tuệ nhân tạo (AI), cho rằng Việt Nam cần tránh nguy cơ phát triển các sản phẩm chỉ phục vụ thị trường nội địa, bởi mô hình này có thể dẫn tới chi phí cao, công nghệ nhanh lạc hậu và khó tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Theo Tiến sỹ Tạ Anh Phương, bài học từ sự thất bại của hệ sinh thái công nghệ được bảo hộ tại Brazil trong giai đoạn 1984-1991 là một cảnh báo đáng chú ý. Khi một quốc gia sử dụng các biện pháp hành chính và chính sách mua sắm công để buộc thị trường sử dụng sản phẩm công nghệ nội địa thiếu sức cạnh tranh, kết quả là sản phẩm có giá thành cao hơn đáng kể so với thế giới, công nghệ tụt hậu nhanh chóng và doanh nghiệp không đủ năng lực xuất khẩu.
Ngược lại, Israel có những mô hình thành công khi lựa chọn hướng đi phù hợp với chuỗi giá trị toàn cầu. Tiến sỹ Tạ Anh Phương dẫn ví dụ công ty an ninh mạng Wiz của Israel, với chiến lược phát triển giải pháp hoạt động trên các nền tảng điện toán đám mây lớn như Amazon Web Services (AWS) và Azure (do Microsoft phát triển) thay vì cạnh tranh trực tiếp để thay thế các nền tảng này. Cách tiếp cận đó giúp Wiz nhanh chóng tạo dựng vị thế và được Google mua lại với giá 23 tỷ USD vào năm 2024.
Từ những kinh nghiệm trên, Tiến sỹ Tạ Anh Phương cho rằng các sản phẩm công nghệ chiến lược của Việt Nam cần vượt qua bài kiểm tra về mức độ phù hợp toàn cầu (Global Relevance Test), hướng tới tạo lập “tính thiết yếu chiến lược” (Strategic Indispensability) để các tập đoàn quốc tế có nhu cầu sử dụng sản phẩm Việt Nam.
Theo đó, Tiến sỹ Tạ Anh Phương đưa ra 3 tiêu chí quan trọng để tạo lợi thế cạnh tranh. Thứ nhất là khai thác lợi thế về đặc thù địa lý và dữ liệu. Việt Nam cần tập trung vào những lĩnh vực mà dữ liệu, tri thức hoặc điều kiện đặc thù trong nước và khu vực Đông Nam Á tạo ra lợi thế khó thay thế, hay còn được biết đến là lợi thế độc quyền. Chẳng hạn, các mô hình AI dành cho tiếng Việt, dữ liệu đặc thù của Đông Nam Á, mô hình nông nghiệp nhiệt đới hay các giải pháp số hóa khu vực có thể trở thành những lĩnh vực mà các tập đoàn công nghệ toàn cầu không dễ dàng tự xây dựng.
Thứ hai là xây dựng vai trò trung tâm kiểm định và tiêu chuẩn công nghệ trong khu vực các nước thuộc Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Theo Tiến sỹ Tạ Anh Phương, Việt Nam có thể hướng tới trở thành “trạm gác kiểm định” cho các sản phẩm công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực an ninh mạng và hạ tầng số, thông qua việc xây dựng các tiêu chuẩn, trung tâm thử nghiệm và chứng nhận chất lượng cho các sản phẩm muốn tham gia thị trường ASEAN.
Thứ ba là tạo ra chi phí chuyển đổi cao đối với khách hàng. Thay vì chỉ phát triển các sản phẩm đầu cuối, doanh nghiệp Việt Nam cần hướng tới các công nghệ nền tảng, linh kiện phụ trợ, module phần mềm nhúng hoặc giải pháp tích hợp sâu vào hệ thống của các tập đoàn lớn. Khi công nghệ Việt Nam được tham gia ngay từ giai đoạn thiết kế ban đầu (co-design), việc thay thế nhà cung cấp sẽ trở nên tốn kém và phức tạp hơn.
Bên cạnh đó, Tiến sỹ Tạ Anh Phương đề xuất áp dụng chiến lược “khách hàng mỏ neo” (Anchor Client). Theo đó, với mỗi sản phẩm công nghệ chiến lược, Nhà nước có thể hỗ trợ kết nối doanh nghiệp trong nước với 2-3 tập đoàn đa quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam để thử nghiệm và ứng dụng sản phẩm ngay từ giai đoạn đầu. Cách làm này không chỉ giúp doanh nghiệp hoàn thiện sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế mà còn tạo ra các hồ sơ năng lực kiểm chứng (Reference Case) để mở rộng ra thị trường toàn cầu. Đây là hướng đi khả thi khi Việt Nam hiện có sự hiện diện của nhiều tập đoàn công nghệ và công nghiệp lớn như LG, Intel, Bosch, Amkor, Unilever, Qualcomm...
Về việc lựa chọn trọng tâm phát triển trong 5 năm tới, Tiến sỹ Tạ Anh Phương cho rằng Việt Nam không nên triển khai đồng loạt toàn bộ 30 sản phẩm công nghệ chiến lược.
Theo Tiến sỹ Tạ Anh Phương, với mức đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) hiện ở mức khoảng 0,4% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tương đương khoảng 1,7 tỷ USD mỗi năm, thấp hơn nhiều so với Hàn Quốc (4,9%) hay Israel (5,6%), Việt Nam cần có sự tập trung cao độ về nguồn lực tài chính, nhân lực và thể chế.
Việc phân tán nguồn lực cho quá nhiều lĩnh vực có thể khiến không sản phẩm nào đạt quy mô và năng lực cạnh tranh quốc tế. Do đó, Việt Nam nên áp dụng nguyên tắc 80:20 (20% dự án tạo ra 80% lợi nhuận), tức phải dồn nguồn lực tài chính, thể chế và con người vào khoảng 5-7 nhóm sản phẩm cốt lõi có khả năng tạo ra phần lớn giá trị, đồng thời hình thành một hệ sinh thái công nghệ có khả năng tự củng cố./.
Theo Phó Giáo sư Vương Tân Tùng, Học viện Xã hội phát triển và Chính sách công, Đại học Sư phạm Bắc Kinh, trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) và robot hình người đang trở thành hướng phát triển quan trọng của các ngành công nghiệp tương lai, Trung Quốc và Việt Nam có nhiều tiềm năng hợp tác trong nghiên cứu công nghệ, xây dựng chuỗi cung ứng, phát triển ứng dụng và đào tạo nhân lực.
Giới nghiên cứu cảnh báo các chatbot trí tuệ nhân tạo (AI) đang gây nhiễu loạn thông tin trước thềm cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tại Mỹ khi cung cấp thông tin sai lệch cho cử tri.
Xu hướng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) của các doanh nghiệp trên thế giới đang hướng tới hiệu quả thực chất. Ngân hàng Goldman Sachs và Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) dự báo tổng đầu tư toàn cầu vào AI sẽ vượt 1.000 tỷ USD trong năm 2026 và có thể đạt tới 4.000 tỷ USD vào năm 2030.
Từ những ý tưởng sáng tạo đến các sản phẩm công nghệ có khả năng ứng dụng trong thực tiễn, đổi mới sáng tạo đang từng bước trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Đồng Nai, chuỗi sự kiện DIGIFEST 2026 mở ra không gian kết nối giữa khoa học, công nghệ, doanh nghiệp và cộng đồng.
AI có thể viết một câu chuyện giống hệt trải nghiệm của bạn, bắt chước cảm xúc, nỗi sợ và cả những điều thầm kín. Nhưng liệu chúng ta có đủ tinh ý để nhận ra đâu là người thật, đâu là trí tuệ nhân tạo? “Ngoài dữ liệu” – Cuộc thử nghiệm thú vị giữa con người và AI, nơi cảm xúc thật đối đầu với những câu trả lời hoàn hảo.
Dự án tái chế gỉ sắt công nghiệp thành vật liệu xử lý nước thải xuất sắc giành giải Nhất. Kết quả từ cuộc thi khởi nghiệp với chủ đề “Vận hành thành phố thông minh” do Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hải Phòng tổ chức. Các dự án tiêu biểu sẽ được ưu tiên tiếp cận Quỹ Đầu tư mạo hiểm và cơ chế Sandbox để thương mại hóa sản phẩm ra thị trường.
Dự án tái chế gỉ sắt công nghiệp thành vật liệu xử lý nước thải xuất sắc giành giải Nhất. Kết quả từ cuộc thi khởi nghiệp với chủ đề “Vận hành thành phố thông minh” do Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hải Phòng tổ chức. Các dự án tiêu biểu sẽ được ưu tiên tiếp cận Quỹ Đầu tư mạo hiểm và cơ chế Sandbox để thương mại hóa sản phẩm ra thị trường.
Tỉnh An Giang xác định phát triển nuôi biển là một trong những hướng quan trọng để tái cơ cấu ngành thủy sản của tỉnh theo hướng hiện đại, bền vững, đồng thời tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân ven biển và giảm áp lực khai thác thủy sản.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, hay sandbox, đang được triển khai tại một số địa phương, tạo không gian thử nghiệm trong những giới hạn xác định đồng thời cung cấp dữ liệu thực tiễn để hoàn thiện chính sách. Tuy nhiên, để công nghệ được ứng dụng và mang lại hiệu quả thiết thực trong cuộc sống, cần một khuôn khổ pháp lý đầy đủ và thông suốt từ trung ương đến địa phương.
Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW, Đại học Cần Thơ đang tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn công tác đào tạo với nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và nhu cầu phát triển của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.