Mở lối doanh nghiệp tăng trưởng bằng ứng dụng công nghệ, dữ liệu

Bốn bước chuyển chiến lược được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu tại Hội nghị Trung ương 3 đang mở ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ đối với cộng đồng doanh nghiệp. Phóng viên báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn GS.TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội xung quanh chủ đề này.

Bài và ảnh: XM/Báo Tin tức và Dân tộc
03/08/2026
07:00

Bốn bước chuyển chiến lược được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu tại Hội nghị Trung ương 3 đang mở ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ đối với cộng đồng doanh nghiệp. Phóng viên báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn GS.TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội xung quanh chủ đề doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội nâng cao sức cạnh tranh chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, công nghệ, dữ liệu và con người.

Tại Hội nghị Trung ương 3, Khoá XIV Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu bốn bước chuyển chiến lược, trong đó có việc xác lập mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người. Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội hưởng ứng định hướng này như thế nào, thưa ông?

Tôi cho rằng, bốn bước chuyển chiến lược được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV không chỉ là sự điều chỉnh về phương thức quản lý, mà là sự đổi mới có tính nền tảng trong tư duy phát triển đất nước. Đặc biệt, bước chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng đầu vào sang phát triển dựa trên năng suất, tri thức, công nghệ và con người chính là lời giải căn cơ cho bài toán nâng cao chất lượng tăng trưởng của Việt Nam.

Ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội. (Ảnh: XM/Báo Tin tức và Dân tộc)
Ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội. (Ảnh: XM/Báo Tin tức và Dân tộc)

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội, hưởng ứng định hướng này không thể chỉ dừng lại ở tuyên truyền hay phát động phong trào. Điều quan trọng nhất là phải chuyển hóa định hướng chiến lược thành sự thay đổi thực chất trong từng doanh nghiệp.

Trước hết, doanh nghiệp phải chuyển từ tư duy tăng trưởng theo chiều rộng sang tư duy tăng trưởng bằng năng suất. Trong nhiều năm, không ít doanh nghiệp phát triển chủ yếu bằng cách tăng vốn, tăng lao động, mở thêm mặt bằng, tăng giờ làm hoặc khai thác lợi thế nhân công giá thấp. Mô hình đó đang dần chạm tới giới hạn. Trong điều kiện chi phí vốn, tiền lương, nguyên liệu, logistics và tiêu chuẩn thị trường ngày càng tăng, doanh nghiệp chỉ có thể phát triển bền vững khi cùng một đơn vị nguồn lực tạo ra nhiều giá trị hơn.

Thứ hai, phải chuyển từ quản trị dựa vào kinh nghiệm sang quản trị dựa vào dữ liệu. Dữ liệu về khách hàng, dòng tiền, hàng tồn kho, năng suất lao động, chi phí sản xuất và hiệu quả thị trường phải được xem là một loại tài sản của doanh nghiệp. Trí tuệ nhân tạo chỉ có thể tạo ra giá trị khi doanh nghiệp có dữ liệu tương đối đầy đủ, có quy trình quản trị rõ ràng và xác định đúng bài toán kinh doanh cần giải quyết.

Thứ ba, doanh nghiệp cần chuyển từ việc “mua công nghệ” sang “giải quyết bài toán bằng công nghệ”. Không phải doanh nghiệp nào cũng cần ngay một hệ thống AI phức tạp. Có doanh nghiệp chỉ cần số hóa quản lý khách hàng; có doanh nghiệp cần dự báo hàng tồn kho; có doanh nghiệp cần tự động hóa kế toán, chăm sóc khách hàng, kiểm soát chất lượng hoặc bán hàng trên nhiều nền tảng. Công nghệ phải đi từ nhu cầu thực tế, có mục tiêu, chỉ số đo lường và khả năng hoàn vốn.

Thứ tư, phải chuyển từ lợi thế lao động giá rẻ sang lợi thế con người có tri thức, kỹ năng và khả năng sáng tạo. Giá trị lớn nhất của AI không phải là thay thế con người một cách cơ học, mà là giải phóng người lao động khỏi những công việc lặp lại để tập trung vào sáng tạo sản phẩm, quản trị chất lượng, phát triển thị trường và xây dựng quan hệ với khách hàng.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các quốc gia thành công không hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số theo một mô hình chung cho tất cả. Singapore xây dựng chương trình SMEs Go Digital theo từng ngành, cung cấp công cụ đánh giá mức độ sẵn sàng, danh mục giải pháp đã được thẩm định và mức hỗ trợ tài chính có thể lên tới 50%. Đến năm 2025, 95,1% doanh nghiệp nhỏ và vừa Singapore đã ứng dụng ít nhất một trong sáu nhóm công nghệ số được khảo sát. Hàn Quốc lại phát triển chương trình nhà máy thông minh theo từng cấp độ, khuyến khích doanh nghiệp bắt đầu từ các giải pháp cơ bản, chi phí phù hợp, sau đó mới nâng cấp lên tự động hóa và sản xuất thông minh.

Đây là những kinh nghiệm Hà Nội có thể tham khảo: hỗ trợ theo ngành, theo mức độ trưởng thành và theo bài toán cụ thể, thay vì hỗ trợ dàn trải. Về phía HANOISME, chúng tôi xác định năm nhóm hành động. Một là, tổ chức đánh giá mức độ sẵn sàng về công nghệ, dữ liệu và nhân lực cho doanh nghiệp. Hai là, kết nối doanh nghiệp với các giải pháp AI, phần mềm và thương mại điện tử đã được kiểm chứng. Ba là, phối hợp với ngân hàng xây dựng các gói tín dụng gắn với phương án đầu tư công nghệ và dòng tiền thực tế. Bốn là, đào tạo đội ngũ quản trị, nhân sự số và an toàn dữ liệu. Năm là, kết nối doanh nghiệp nhỏ và vừa với các tập đoàn lớn, chuỗi cung ứng và thị trường trong nước, quốc tế.

Tổ chức Thương mại Thế giới dự báo, trong các kịch bản thu hẹp được khoảng cách công nghệ và chính sách, AI có thể giúp thương mại toàn cầu vào năm 2040 cao hơn từ 34% đến 37% so với kịch bản không có tiến bộ do AI dẫn dắt. Cơ hội rất lớn, nhưng lợi ích sẽ không tự động được chia đều. Doanh nghiệp nào có năng lực dữ liệu, nhân lực, quản trị và kết nối thị trường tốt hơn sẽ nắm được phần giá trị lớn hơn. Vì vậy, hưởng ứng bước chuyển chiến lược phải được thể hiện bằng kết quả cụ thể: Năng suất cao hơn, chi phí thấp hơn, sản phẩm tốt hơn, thị trường rộng hơn, người lao động có thu nhập và kỹ năng cao hơn. Đó mới là thước đo thực chất của mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người.

Tại Diễn đàn Kinh tế Thủ đô vừa qua, Ban Tổ chức có nêu những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp để phản hồi tới cơ quan chức năng. Những vấn đề doanh nghiệp kiến nghị chủ yếu là gì thưa ông?

Diễn đàn Kinh tế Thủ đô năm 2026, Ban Tổ chức xác định đây không chỉ là một sự kiện trao đổi tại hội trường mà phải trở thành một diễn đàn hành động, có cơ chế tiếp nhận, phân loại và theo dõi nhu cầu của doanh nghiệp sau 30, 60 và 100 ngày.

Ông Mạc Quốc Anh thông tin về chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội. (Ảnh: XM/Báo Tin tức và Dân tộc)
Ông Mạc Quốc Anh thông tin về chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội. (Ảnh: XM/Báo Tin tức và Dân tộc)

Các phiếu và kiến nghị đang tiếp tục được rà soát, chuẩn hóa và mã hóa theo từng nhóm vấn đề. Bước đầu, chúng tôi ghi nhận sáu nhóm khó khăn lớn. Nhóm thứ nhất là khả năng tiếp cận chính sách. Thành phố và Trung ương đã ban hành nhiều chương trình hỗ trợ về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, đào tạo, xúc tiến thương mại và tín dụng.

Tuy nhiên, doanh nghiệp nhỏ thường thiếu bộ phận chuyên trách để nghiên cứu văn bản, chuẩn bị hồ sơ và chứng minh điều kiện thụ hưởng. Doanh nghiệp phản ánh tình trạng biết có chính sách nhưng không biết bắt đầu từ đâu, liên hệ đầu mối nào, hồ sơ gồm những gì và thời hạn giải quyết ra sao.

Nhóm thứ hai là vốn và các điều kiện tín dụng. Không ít doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi nhưng thiếu tài sản bảo đảm, hồ sơ tài chính chưa chuẩn hóa hoặc dòng tiền chưa được số hóa đầy đủ. Do đó, ngân hàng khó đánh giá chính xác năng lực trả nợ. Doanh nghiệp đề nghị phát triển cơ chế chấm điểm tín dụng dựa trên dòng tiền, hợp đồng, hóa đơn điện tử, dữ liệu bán hàng và đơn hàng trong chuỗi cung ứng, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào bất động sản thế chấp.

Nhóm thứ ba là ứng dụng AI và chuyển đổi số. Rào cản lớn nhất không còn nằm ở việc thiếu công nghệ, mà ở việc doanh nghiệp chưa xác định được giải pháp nào phù hợp, chi phí bao nhiêu, thời gian hoàn vốn thế nào và ai chịu trách nhiệm nếu dự án không đạt kết quả. Nhiều doanh nghiệp cũng lo ngại về an toàn dữ liệu, quyền sở hữu dữ liệu, phụ thuộc nhà cung cấp và khả năng liên thông giữa các phần mềm.

Nhóm thứ tư là thương mại điện tử và mở rộng thị trường. Doanh nghiệp quan tâm đến chi phí quảng cáo, phí nền tảng, quản lý hàng hoàn trả, bảo vệ thương hiệu, xuất xứ hàng hóa, thuế trong giao dịch trực tuyến, logistics xuyên biên giới và khai thác dữ liệu khách hàng. Một số doanh nghiệp bán được hàng trên sàn nhưng lợi nhuận thấp, phụ thuộc lớn vào quảng cáo và chưa xây dựng được thương hiệu riêng.

Tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số. (Ảnh: XM/Báo Tin tức và Dân tộc)
Tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số. (Ảnh: XM/Báo Tin tức và Dân tộc)

Nhóm thứ năm là thủ tục hành chính. Các phản ánh tập trung vào những lĩnh vực có nhiều cơ quan và nhiều bước xử lý như đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, phòng cháy, môi trường, đăng ký kinh doanh, thuế và giấy phép chuyên ngành. Doanh nghiệp mong muốn giảm yêu cầu nộp lại những dữ liệu Nhà nước đã có, thống nhất cách hiểu giữa các cơ quan và công khai rõ thời gian xử lý từng bước.

Nhóm thứ sáu là chất lượng nhân lực và khả năng tham gia chuỗi cung ứng. Nhiều doanh nghiệp thiếu nhân sự có khả năng quản trị dữ liệu, vận hành phần mềm, thực hiện thương mại điện tử, quản trị tài chính và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, môi trường, lao động và truy xuất nguồn gốc. Đồng thời, doanh nghiệp nhỏ vẫn khó tiếp cận bộ phận mua hàng của các tập đoàn lớn, dù có sản phẩm và năng lực sản xuất phù hợp. Đây cũng là những rào cản phổ biến được OECD ghi nhận đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên thế giới: thiếu kỹ năng nội bộ, thiếu thời gian, hạn chế tài chính, thiếu văn hóa dữ liệu và chưa tiếp cận được các chương trình hỗ trợ phù hợp.

Điều quan trọng là chúng ta không nên xử lý kiến nghị theo cách doanh nghiệp gửi một văn bản rồi chờ đợi không xác định. Mỗi kiến nghị phải có mã số, đầu mối phụ trách, thời hạn phản hồi và trạng thái xử lý. Vấn đề thuộc thẩm quyền của Hiệp hội thì Hiệp hội giải quyết; thuộc thẩm quyền của sở, ngành thì chuyển đúng cơ quan; vấn đề liên ngành hoặc vượt thẩm quyền phải được tổng hợp, kiến nghị Thành phố và cơ quan Trung ương.

Từ những kiến nghị đó, Hiệp hội sẽ phối hợp giải quyết ra sao? Mục tiêu cụ thể trong 100 ngày kết nối, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội là gi, thưa ông?

HANOISME xác định nguyên tắc thực hiện là không để kiến nghị sau diễn đàn trở thành hồ sơ lưu trữ, mà phải chuyển thành nhiệm vụ có người phụ trách, có thời hạn và có kết quả kiểm chứng. Trong 10 ngày đầu, Hiệp hội sẽ hoàn thành việc tổng hợp, số hóa và phân loại kiến nghị theo sáu nhóm: chính sách – thủ tục; khoa học, công nghệ và dữ liệu; vốn; thị trường; nhân lực; đất đai và điều kiện đầu tư kinh doanh. Mỗi vụ việc được cấp một mã theo dõi và xác định rõ doanh nghiệp, nội dung, cơ quan có thẩm quyền, đầu mối Hiệp hội và thời hạn dự kiến.

Đầu tư công nghệ xuất phát từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. (Ảnh: XM/Báo Tin tức và Dân tộc)
Đầu tư công nghệ xuất phát từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. (Ảnh: XM/Báo Tin tức và Dân tộc)

Từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 30, HANOISME phối hợp với các sở, ngành, Trung tâm Phục vụ hành chính công, tổ chức tín dụng, đơn vị công nghệ và chuyên gia tổ chức các phiên tư vấn chuyên đề. Những vấn đề có thể hướng dẫn ngay sẽ được xử lý trực tiếp; những vấn đề cần văn bản chính thức sẽ được chuyển cơ quan có thẩm quyền; những kiến nghị liên quan đến chính sách sẽ được tổng hợp thành nhóm đề xuất.

Từ ngày thứ 31 đến ngày thứ 60, Hiệp hội tập trung triển khai các trường hợp thí điểm: ứng dụng AI trong một quy trình cụ thể; hoàn thiện hồ sơ tín dụng; số hóa quản trị; kết nối doanh nghiệp với tập đoàn lớn; đưa sản phẩm lên nền tảng thương mại điện tử; hỗ trợ thủ tục hành chính trực tuyến. Giai đoạn này phải hình thành được số liệu so sánh trước và sau, tránh đánh giá bằng cảm tính. Từ ngày thứ 61 đến ngày thứ 100, Tổ công tác sẽ đánh giá kết quả từng trường hợp, xác định mô hình nào có thể nhân rộng, trường hợp nào cần điều chỉnh và vướng mắc nào phải kiến nghị Thành phố hoặc Trung ương. Ban Tổ chức dự kiến tổng hợp từ 10 đến 15 kiến nghị chính sách trọng tâm sau Diễn đàn.

Chúng tôi đề xuất một số chỉ tiêu điều hành cụ thể: 100% kiến nghị được ghi nhận và phản hồi việc tiếp nhận trong vòng ba ngày làm việc; tối thiểu 80% kiến nghị được phân loại, xác định đầu mối xử lý trong vòng năm ngày; tối thiểu 70% vụ việc nhận được hướng dẫn, câu trả lời hoặc lộ trình xử lý rõ ràng trong 30 ngày; đến ngày thứ 60, ít nhất 50% vụ việc thuộc phạm vi có thể giải quyết phải được xử lý hoặc đạt được mốc tiến triển thực chất. Đối với nhóm hỗ trợ tăng trưởng, mục tiêu là có ít nhất 20 doanh nghiệp triển khai thí điểm giải pháp công nghệ hoặc AI; ít nhất 10 hồ sơ tín dụng, đầu tư được hoàn thiện và kết nối; ít nhất 10 kết nối B2B chuyển thành biên bản hợp tác, đơn hàng hoặc hợp đồng nguyên tắc.

Thành công sau 100 ngày không được đo bằng số cuộc họp hay số văn bản đã chuyển, mà bằng số chi phí được cắt giảm, số quy trình được rút ngắn, số hồ sơ được giải quyết, số doanh nghiệp tiếp cận được vốn, số hợp đồng được hình thành và mức năng suất, doanh thu thực tế được cải thiện.

Như ông chia sẻ, một trong các khó khăn là về thủ tục hành chính. Cách đây hơn 2 tháng, Hiệp hội có ký kết với Trung tâm Phục vụ hành chính công Hà Nội nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện thủ tục. Sau một thời gian, kết quả thực hiện ra sao, thưa ông?

Mục tiêu của chương trình là hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện dịch vụ công trực tuyến, nâng cao chất lượng thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ và thiết lập cơ chế phản hồi hai chiều giữa cơ quan hành chính với cộng đồng doanh nghiệp. Kết quả đầu tiên và quan trọng nhất là hai bên đã hình thành được một cơ chế phối hợp chính thức. Trước đây, một doanh nghiệp gặp khó khăn có thể phải tự tìm hiểu và liên hệ nhiều nơi.

Thông qua cơ chế hợp tác, Hiệp hội có thể tập hợp những trường hợp tương đồng, chuẩn hóa nội dung và chuyển tới đúng đầu mối của Trung tâm. Ngược lại, các hướng dẫn, thay đổi quy trình và yêu cầu về hồ sơ được truyền tải nhanh hơn tới cộng đồng doanh nghiệp. Kết quả thứ hai là nhận thức và kỹ năng sử dụng dịch vụ công trực tuyến của doanh nghiệp đã từng bước được cải thiện.

Việc hỗ trợ không chỉ là hướng dẫn bấm nút nộp hồ sơ, mà còn bao gồm chuẩn hóa tài liệu điện tử, chữ ký số, tài khoản định danh, cách theo dõi trạng thái hồ sơ và cách phản ánh khi có vướng mắc. Kết quả thứ ba là cơ chế hợp tác đã giúp chúng tôi nhận diện rõ hơn những điểm nghẽn phát sinh trong thực tế, nhất là tình trạng doanh nghiệp phải kê khai lại dữ liệu đã có, thành phần hồ sơ điện tử chưa thống nhất, một số quy trình liên thông còn nhiều bước và doanh nghiệp chưa biết cơ quan nào chịu trách nhiệm ở từng giai đoạn.

Cũng cần phân biệt rõ giữa kết quả chung của hệ thống hành chính công Hà Nội và kết quả trực tiếp của chương trình hợp tác. Trước thời điểm ký kết, hệ thống của Thành phố đã đạt nhiều tiến bộ: điểm chất lượng phục vụ quý I/2026 đạt 95,19 điểm; tỷ lệ số hóa hồ sơ đạt 94,72%; năng suất xử lý đạt 366 hồ sơ trên một người mỗi tháng. Việc phân cấp, ủy quyền 636 thủ tục được ước tính đã tiết kiệm hơn 571.000 giờ công và trên 63 tỷ đồng chi phí xã hội. Đây là nền tảng vận hành chung của Thành phố.

Trong giai đoạn tiếp theo, chúng tôi đề nghị hai bên xây dựng bảng theo dõi chung với sáu chỉ số: Số doanh nghiệp được hướng dẫn; số hồ sơ nộp trực tuyến thành công; tỷ lệ hồ sơ phải bổ sung; thời gian xử lý trung bình; số phản ánh được giải quyết; chi phí và thời gian doanh nghiệp tiết kiệm được. Mục tiêu cuối cùng của cải cách hành chính không chỉ là đưa thủ tục từ giấy lên môi trường điện tử. Nếu quy trình phức tạp được số hóa nguyên trạng thì doanh nghiệp vẫn phải chịu chi phí, chỉ khác là chi phí đó diễn ra trên màn hình máy tính. Cải cách thực chất phải đồng thời giảm giấy tờ, giảm đầu mối, giảm số lần đi lại, giảm thời gian chờ đợi và tăng khả năng dự báo của doanh nghiệp.

Quan điểm của chúng tôi là xây dựng mô hình “một yêu cầu – một đầu mối – một mã theo dõi – một kết quả cuối cùng”. Doanh nghiệp phải biết hồ sơ của mình đang ở đâu, ai chịu trách nhiệm và khi nào có kết quả. Khi làm được điều đó, nền hành chính không chỉ phục vụ doanh nghiệp tốt hơn mà còn trở thành một bộ phận của năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây chính là tinh thần chuyển từ quản lý sang phục vụ, từ phản ứng sang chủ động, từ đánh giá bằng số lượng hồ sơ sang đánh giá bằng sự hài lòng, chi phí tuân thủ và cơ hội phát triển của người dân, doanh nghiệp.

Xin trân trọng cảm ơn ông!