Đưa dữ liệu số thành nền tảng quản trị vùng nguyên liệu

Phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2026-2030 sẽ được đẩy mạnh theo hướng quản trị bằng dữ liệu số, gắn sản xuất với thị trường, truy xuất nguồn gốc và liên kết chuỗi.

Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn
09/09/2026
14:13
Vĩnh Long đang tập trung xây dựng các vùng nguyên liệu đạt chuẩn nhằm nâng cao giá trị nông sản, mở rộng thị trường xuất khẩu và hướng đến phát triển nông nghiệp bền vững. (Ảnh: Thanh Hòa/TTXVN)
Vĩnh Long đang tập trung xây dựng các vùng nguyên liệu đạt chuẩn nhằm nâng cao giá trị nông sản, mở rộng thị trường xuất khẩu và hướng đến phát triển nông nghiệp bền vững. (Ảnh: Thanh Hòa/TTXVN)

Phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2026-2030 sẽ được đẩy mạnh theo hướng quản trị bằng dữ liệu số, gắn sản xuất với thị trường, truy xuất nguồn gốc và liên kết chuỗi. Một trong những mục tiêu đáng chú ý của đề án là đến năm 2030, trên 70% vùng nguyên liệu được hỗ trợ hoàn thành lập bản đồ số và chuẩn hóa dữ liệu cơ bản.

Theo Đề án Phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026-2030 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chuyển đổi số được xác định là một trong những trụ cột quan trọng để nâng cao năng lực quản trị vùng nguyên liệu.

Cùng với đầu tư hạ tầng và củng cố tổ chức sản xuất, đề án hướng tới hình thành các vùng nguyên liệu được quản lý thống nhất dựa trên dữ liệu về diện tích, chủ thể sản xuất, mùa vụ, sản lượng, chất lượng, mã số vùng trồng, vùng nuôi và tình hình liên kết tiêu thụ.

Cụ thể, đến năm 2030, trên 70% vùng nguyên liệu được hỗ trợ hoàn thành lập bản đồ số và chuẩn hóa dữ liệu cơ bản. Trong số đó, tối thiểu 60% diện tích được hỗ trợ áp dụng nhật ký sản xuất điện tử, quản lý mã số và truy xuất nguồn gốc phù hợp với yêu cầu của từng ngành hàng và thị trường.

Đây không chỉ là việc đưa thông tin sản xuất lên môi trường số mà hướng tới thay đổi phương thức quản lý vùng nguyên liệu.

Theo đề án, dữ liệu phải được chuẩn hóa, cập nhật và kết nối với các nền tảng dùng chung, tránh tình trạng mỗi địa phương, doanh nghiệp hoặc hợp tác xã xây dựng một hệ thống riêng lẻ, thiếu khả năng liên thông.

Số hóa dữ liệu, quản lý mã số vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc cũng được xác định là yêu cầu bắt buộc đối với các vùng được hỗ trợ.

Hệ thống quản trị số được xây dựng trên cơ sở bản đồ số và cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu; chuẩn hóa thông tin về chủ thể sản xuất, diện tích, sản lượng, mùa vụ, chất lượng, mã số vùng trồng, vùng nuôi; số hóa nhật ký sản xuất, quản lý vật tư đầu vào, quy trình sản xuất, thu hoạch và truy xuất nguồn gốc.

Dữ liệu sẽ được kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu và nền tảng dùng chung của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và địa phương theo quy định.

Việc số hóa được kỳ vọng giúp các hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ quan quản lý có bức tranh đầy đủ hơn về vùng nguyên liệu, từ đó phục vụ lập kế hoạch sản xuất, kiểm soát chất lượng và tổ chức thu mua. Khi thông tin về diện tích, sản lượng, mùa vụ và chất lượng được cập nhật thường xuyên, việc cân đối cung - cầu, tổ chức thu hoạch, thu gom, chế biến và tiêu thụ cũng có cơ sở chính xác hơn.Đặc biệt, dữ liệu số sẽ trở thành nền tảng để đáp ứng ngày càng cao các yêu cầu của thị trường về truy xuất nguồn gốc, chất lượng và minh bạch chuỗi cung ứng.

Đề án xác định việc phát triển vùng nguyên liệu trong giai đoạn mới phải gắn ngay từ đầu với dữ liệu, tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc; quản lý vùng nguyên liệu không chỉ dựa trên diện tích mà phải dựa trên dữ liệu về chủ thể, sản lượng, tiêu chuẩn, mã số, liên kết và kết quả sản xuất.

Bên cạnh mục tiêu về số hóa, đề án đặt ra yêu cầu trên 80% hợp tác xã, tổ hợp tác tham gia vùng nguyên liệu được hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về quản trị, kế hoạch sản xuất, cung ứng dịch vụ, quản lý chất lượng, thực hiện hợp đồng và quản trị dữ liệu.

Khoảng 70% vùng nguyên liệu được hỗ trợ phải có hợp tác xã, tổ hợp tác tham gia tổ chức sản xuất và có ít nhất một doanh nghiệp, cơ sở chế biến, thu gom, phân phối hoặc tổ chức tiêu thụ ký hợp đồng liên kết hoặc thỏa thuận hợp tác còn hiệu lực.

Như vậy, dữ liệu số không được xây dựng tách rời khỏi tổ chức sản xuất. Hợp tác xã được xác định là hạt nhân tổ chức người sản xuất, quản lý vùng nguyên liệu, dữ liệu và chất lượng; trong khi doanh nghiệp giữ vai trò dẫn dắt thị trường, xác lập tiêu chuẩn, đầu tư chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu.

Mục tiêu là hình thành hệ thống quản trị vùng nguyên liệu thống nhất, minh bạch, giúp nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu của cả thị trường trong nước và quốc tế.

Cùng với số hóa, đề án tập trung giải quyết hai điểm nghẽn lớn khác là hạ tầng và liên kết chuỗi. Nhà nước ưu tiên đầu tư các công trình công cộng, thiết yếu, có tính kết nối và tác động lan tỏa, nhất là giao thông kết nối vùng nguyên liệu với khu thu gom, sơ chế, chế biến, bảo quản và thị trường.

Mục tiêu đến năm 2030 là giảm tối thiểu 10% chi phí vận chuyển, 10-15% thời gian thu gom và 8-10% hao hụt sau thu hoạch.

Việc lựa chọn vùng nguyên liệu cũng được đặt trên nguyên tắc không chạy theo diện tích mà phải xuất phát từ nhu cầu thị trường, năng lực chế biến và khả năng tiêu thụ.

Đề án dự kiến rà soát khoảng 250-300 vùng nguyên liệu có tiềm năng trên cả nước để đánh giá, lựa chọn; đây không phải số vùng mặc nhiên được hỗ trợ. Vùng được đưa vào danh mục phải đáp ứng các tiêu chí về quy hoạch, thị trường, tổ chức sản xuất, hạ tầng, khả năng đầu tư, sẵn sàng số hóa và hiệu quả, bền vững.

Đề án cũng đặt mục tiêu tối thiểu 60% sản lượng được tiêu thụ thông qua hợp đồng; phấn đấu tăng tối thiểu 10% doanh thu của hợp tác xã, tổ hợp tác và 10% thu nhập của thành viên, người sản xuất tham gia vùng nguyên liệu so với thời điểm trước khi thực hiện đề án.

Qua đó, hiệu quả của vùng nguyên liệu sẽ được đánh giá không chỉ bằng số công trình hay diện tích được hỗ trợ mà bằng khả năng tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và nâng cao thu nhập.

Những mục tiêu mới được xây dựng trên cơ sở kết quả của đề án thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn phục vụ chế biến và tiêu thụ giai đoạn 2022-2025.

Đề án thí điểm được triển khai tại 5 vùng nguyên liệu thuộc 11 tỉnh, bước đầu hình thành phương thức tổ chức theo hướng nhà nước đầu tư hạ tầng thiết yếu, hợp tác xã tổ chức và điều phối vùng nguyên liệu, doanh nghiệp dẫn dắt thị trường, chế biến và tiêu thụ, còn người sản xuất là chủ thể tham gia chuỗi giá trị.

Đến cuối năm 2025, tổng diện tích vùng nguyên liệu đạt khoảng 169.800 ha, tăng 33.800 ha, tương đương 20% so với trước khi triển khai đề án.

Diện tích có liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp đạt gần 121.000 ha, chiếm 71,2%, tăng mạnh so với khoảng 17.000 ha trước khi thực hiện đề án. Toàn bộ các hợp phần chủ yếu cơ bản hoàn thành, trong đó nhiều chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch.

Trong giai đoạn này, hơn 123 hợp tác xã được thành lập mới hoặc củng cố, nâng tổng số hợp tác xã tham gia lên 393; trên 5.500 lượt cán bộ quản lý và thành viên hợp tác xã được đào tạo, tập huấn.

Các địa phương cũng hình thành hơn 90 chuỗi liên kết, trong khi số doanh nghiệp, nhà máy thu mua, chế biến tham gia tăng từ 11 lên 27 đơn vị./.

Tin cùng chuyên mục

Công nghệ số giúp thu hẹp khoảng cách ở vùng cao Đà Nẵng

Tại các xã miền núi Trà Vân, La Dêê của thành phố Đà Nẵng, chuyển đổi số đang được cụ thể hóa từ những công việc thiết thực: AI hỗ trợ cán bộ xử lý công việc, người dân được hướng dẫn sử dụng dịch vụ công trực tuyến và nâng cao kỹ năng an toàn số. Những cách làm từ cơ sở đang góp phần hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW, đưa khoa học, công nghệ và chuyển đổi số từng bước đi vào đời sống.

Tại các xã miền núi Trà Vân, La Dêê của thành phố Đà Nẵng, chuyển đổi số đang được cụ thể hóa từ những công việc thiết thực: AI hỗ trợ cán bộ xử lý công việc, người dân được hướng dẫn sử dụng dịch vụ công trực tuyến và nâng cao kỹ năng an toàn số. Những cách làm từ cơ sở đang góp phần hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW, đưa khoa học, công nghệ và chuyển đổi số từng bước đi vào đời sống.

Thêm một giải pháp để đưa dịch vụ công số đến gần người dân

Thêm một giải pháp để đưa dịch vụ công số đến gần người dân

Sau khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào hoạt động, việc đưa dịch vụ công trực tuyến đến gần người dân, đặc biệt tại cấp xã, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Từ Hà Nội, Thanh Hóa đến Quảng Ninh, Ninh Bình, Đà Nẵng và Lạng Sơn, 61 Trạm Dịch vụ công số do Agribank tài trợ đang góp thêm một giải pháp để chính quyền cơ sở cải cách thủ tục hành chính.

Một đơn hàng online để lại những Dữ liệu số - Dấu vết số nào?

Một đơn hàng online để lại những Dữ liệu số - Dấu vết số nào?

Bạn đang kinh doanh online? Mỗi ngày, bạn có thể đang tạo ra hàng trăm dữ liệu mà không để ý. một lượt chốt đơn, một giao dịch chuyển khoản, một mã vận đơn, một lần giao hàng COD... Vậy một đơn hàng online thực sự để lại những “dấu vết số” nào? Và người kinh doanh cần hiểu thế nào để không rơi vào tình trạng tiền về một nơi, sổ sách một nơi, còn nghĩa vụ thuế lại là một câu chuyện khác?

Đổi mới bài giảng bằng AI, khơi mở năng lực học sinh

Đổi mới bài giảng bằng AI, khơi mở năng lực học sinh

Chuyển đổi số trong giáo dục, đổi mới phương pháp giảng dạy, đưa công nghệ hay trí tuệ nhân tạo vào lớp học là xu thế không thể đảo ngược. Tại trường Trung học Cơ sở Nguyễn Du, phường Bến Thành, Thành phố Hồ Chí Minh, Trí tuệ nhân tạo - AI đang từng bước trở thành công cụ hỗ trợ giáo viên thiết kế bài giảng trực quan, tăng tương tác và khơi mở năng lực của người học.

Chuyển đổi số mang lại hiệu quả trong quản lý và vận hành hệ thống điện của EVNNPC

Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) tiếp tục xây dựng và triển khai kế hoạch chuyển đổi số theo nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị với nhiệm vụ trọng tâm: số hóa dữ liệu; triển khai các công nghệ số trong lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khách hàng; đầu tư xây dựng và quản trị nội bộ…

Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) tiếp tục xây dựng và triển khai kế hoạch chuyển đổi số theo nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị với nhiệm vụ trọng tâm: Số hóa dữ liệu; triển khai các công nghệ số trong lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khách hàng; đầu tư xây dựng và quản trị nội bộ…

Cơn khát chip AI đẩy giá thiết bị điện tử tăng

Nhiều gian hàng công nghệ ở London (Anh) phủ kín biển giảm giá và ưu đãi. Nhưng đằng sau làn sóng khuyến mãi ấy là một sức ép ngược chiều: cơn khát chip nhớ của Trí tuệ nhân tạo đang đẩy chi phí linh kiện leo thang, chấm dứt thời hàng điện tử ngày một rẻ. Các nhà mạng giảm giá máy, chia nhỏ trả góp để kéo khách ký thuê bao, ngay giữa lúc giá thành thiết bị thực chất đang tăng.

Nhiều gian hàng công nghệ ở London (Anh) phủ kín biển giảm giá và ưu đãi. Nhưng đằng sau làn sóng khuyến mãi ấy là một sức ép ngược chiều: cơn khát chip nhớ của Trí tuệ nhân tạo đang đẩy chi phí linh kiện leo thang, chấm dứt thời hàng điện tử ngày một rẻ.

Giải pháp công nghệ mới ứng phó sự cố hóa học, sinh học, phóng xạ, hạt nhân và bảo vệ môi trường

Sáng 8/9/2026, tại Hà Nội, Viện Hóa học môi trường quân sự (Binh chủng Hóa học) tổ chức Hội thảo khoa học ứng dụng công nghệ mới trong phòng, chống, ứng phó sự cố hóa học, sinh học, phóng xạ, hạt nhân (CBRN) và bảo vệ môi trường, với sự tham dự của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý cùng đại biểu đến từ nhiều cơ quan, đơn vị, học viện, nhà trường trong và ngoài Quân đội.

Nhằm tăng cường việc ứng dụng công nghệ mới trong phòng, chống, ứng phó sự cố hóa học, sinh học, phóng xạ, hạt nhân (CBRN) và bảo vệ môi trường, sáng 8/9/2026, tại Hà Nội, Viện Hóa học môi trường quân sự tổ chức hội thảo khoa học, thu hút sự tham dự của các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài quân đội.

Tăng tốc đào tạo nhân lực bán dẫn bắt kịp nhu cầu thị trường

Tăng tốc đào tạo nhân lực bán dẫn bắt kịp nhu cầu thị trường

Dự báo trong 5 năm tới, Việt Nam sẽ cần từ 20.000 đến 50.000 kỹ sư vi mạch và bán dẫn. Con số này đặt ra yêu cầu cấp thiết về đổi mới mô hình đào tạo, khi các cơ sở giáo dục đại học không thể tiếp tục vận hành theo cách tuyến tính, khép kín mà cần chuyển sang cách tiếp cận linh hoạt, gắn chặt với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.