Nghị quyết 57-NQ/TW tạo động lực thay đổi diện mạo ngành du lịch ra sao?
Hệ sinh thái du lịch số Việt Nam đang dần kiến tạo được một nền tảng bền vững dựa trên khung pháp lý, với 4 nhóm sản phẩm lõi... khi tích cực triển khai tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW.
Từ tìm thông tin, chọn điểm đến, đặt dịch vụ, thanh toán phí, trải nghiệm, đến chia sẻ hành trình… công nghệ số đang thay đổi toàn bộ cách thức vận hành chuỗi giá trị du lịch này của du khách Việt.
Giữa bối cảnh đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã mở lối cho một chiến lược, tạo bệ đỡ và động lực để ngành du lịch phát triển đồng bộ hệ sinh thái số hiện đại, thông minh và dựa trên dữ liệu.
Những "điểm chạm" cá nhân hóa từ công cụ AI
Diện mạo của toàn ngành đang có nhiều chuyển biến tích cực khi các địa phương, doanh nghiệp nhanh chóng tham gia vào ứng dụng công nghệ, xây dựng website, ứng dụng du lịch thông minh, bản đồ số, thanh toán không tiền mặt, vé điện tử, thuyết minh tự động, thực tế ảo... Nhiều điểm đến đã bắt đầu khai thác dữ liệu để phân tích thị trường, theo dõi hành vi du khách và nâng cao hiệu quả xúc tiến, quảng bá.
Song, tại một số hội nghị tổng kết hoạt động, lãnh đạo ngành đánh giá tổng thể công tác chuyển đổi số trong du lịch vẫn thiếu sự tập trung như: dữ liệu còn nằm rời rạc giữa các lĩnh vực, giữa cơ quan quản lý, địa phương và doanh nghiệp; khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu chưa đồng đều; chưa tạo thành hệ sinh thái thống nhất…
Để khắc phục những “lỗ hổng” đó, Nghị quyết 57-NQ/TW đã xác định thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi. Theo đó, dữ liệu du lịch được xác định là hạ tầng mềm quan trọng, là dòng chảy kết nối toàn bộ hệ sinh thái. Đặc biệt, việc xây dựng cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia kết nối liên thông sẽ tạo ra năng lực mới cho cả quản lý nhà nước và hoạt động kinh doanh.
Trong tương lai, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn có thể giúp hình thành các hệ thống dự báo nhu cầu du lịch, dự báo lượng khách theo mùa, phân tích cảm xúc của du khách trên mạng xã hội, phát hiện sớm các vấn đề về chất lượng dịch vụ và hỗ trợ cơ quan quản lý đưa ra quyết định nhanh hơn, chính xác hơn; quản lý điểm đến có thể chuyển dần từ phản ứng sau khi vấn đề xảy ra sang dự báo và chủ động điều tiết.
Khi dữ liệu là nền tảng thì trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ là công cụ hỗ trợ khai thác giá trị của dữ liệu, thông qua phân tích thông tin để nhận diện xu hướng, đánh giá hình ảnh điểm đến và nắm bắt tâm lý du khách theo từng thị trường. Công nghệ cũng giúp tự động hóa việc sản xuất và phân phối nội dung đa ngôn ngữ, cá nhân hóa thông điệp quảng bá theo từng nhóm khách, từng giai đoạn của hành trình.
Theo đó, khách Mỹ được gợi ý trải nghiệm lịch sử, văn hóa, ẩm thực và hành trình dài ngày; khách châu Âu khám phá văn hóa, di sản, thiên nhiên và du lịch bền vững; khách Hàn Quốc sẽ nhận diện điểm đến Việt Nam với các sản phẩm nghỉ dưỡng biển, du lịch gia đình, golf, ẩm thực; khách Ấn Độ được tiếp cận các sản phẩm du lịch cưới, MICE, nghỉ dưỡng cao cấp và du lịch tâm linh… AI sẽ giúp quảng bá có trọng điểm như vậy nhằm tối ưu nguồn lực xúc tiến trong bối cảnh cạnh tranh điểm đến ngày càng gay gắt.
Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam Nguyễn Trùng Khánh khẳng định đối với du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và hội nhập quốc tế sâu rộng, tác động của AI càng thể hiện rõ nét từ quản lý nhà nước, tham mưu chính sách, nghiên cứu thị trường, xúc tiến quảng bá, phát triển sản phẩm, đến hoạt động của doanh nghiệp và trải nghiệm của du khách…
Theo Cục trưởng, AI đang mở ra những cách tiếp cận mới, thông minh hơn, hiệu quả hơn. Việc ứng dụng AI sẽ góp phần nâng cao chất lượng phục vụ du khách, tăng năng suất lao động và tạo ra lợi thế cạnh tranh nếu được sử dụng đúng hướng.
Tuy nhiên, lãnh đạo ngành cũng lưu ý, AI là công cụ hỗ trợ hiệu quả nhưng không thể thay thế con người, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch - ngành kinh tế dịch vụ đòi hỏi yếu tố cảm xúc, trải nghiệm và sự tương tác trực tiếp. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải nhận thức đúng, hiểu đúng và vận dụng AI một cách phù hợp, hiệu quả.
Trọng tâm của hệ sinh thái du lịch số
Nghị quyết 57-NQ/TW cũng chỉ rõ một định hướng quan trọng là đặt người dân và doanh nghiệp ở vị trí trung tâm, chủ thể, nguồn lực và động lực chính của chuyển đổi số. Điều này đòi hỏi chuyển đổi số phải tạo ra giá trị trực tiếp cho du khách và doanh nghiệp.
Mục tiêu cuối cùng không phải là có nhiều ứng dụng, mà là tạo ra một hành trình du lịch thuận tiện, liền mạch và thông minh giúp du khách tìm thông tin, chọn điểm đến, thiết kế lịch trình, trải nghiệm toàn bộ dịch vụ từ đặt phòng, vé, mua tour, thanh toán đến chia sẻ hành trình trên không gian số. Chuỗi dịch vụ khi được cá nhân hóa cho từng người chính là những “điểm chạm” giữ chân du khách.
Với tinh thần đó, lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong chỉ đạo định hướng cũng xác định Nghị quyết 57 vừa là cơ hội nhưng cũng đặt ra yêu cầu, thách thức toàn ngành phải nhanh chóng chuyển từ tư duy khai thác những lợi thế sẵn có sang kiến tạo những giá trị mới; từ tăng trưởng theo chiều rộng sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.
Đặc biệt, nhờ sự hỗ trợ của Cục Du lịch Quốc gia, thời gian qua nhiều địa phương, điểm đến du lịch đã chủ động ứng dụng các tiện ích số vào phục vụ du khách như mã QR, bản đồ số, bảo tàng 3D, công nghệ thực tế ảo, thực tế tăng cường, 3D Mapping...; kết nối dữ liệu với các nền tảng dùng chung.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng từng bước ứng dụng hệ thống quản trị hiện đại, phát triển sản phẩm trên môi trường số, đẩy mạnh thương mại điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt đã góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ, tối ưu vận hành và cải thiện trải nghiệm du khách. Sự chuyển mình này đã mang đến một diện mạo mới mẻ cho toàn ngành du lịch Việt Nam hiện đại, thông minh và bền vững.
Thực tế cho thấy, hệ sinh thái du lịch số Việt Nam đang dần kiến tạo được một nền tảng bền vững dựa trên khung pháp lý, với 4 nhóm sản phẩm lõi (Thẻ du lịch thông minh; Hệ thống vé điện tử trực tuyến-liên thông-đa phương thức; Quản lý tour điện tử; Kết nối liên thông dữ liệu du lịch giữa cơ quan quản lý nhà nước-địa phương-doanh nghiệp), có kết nối dữ liệu, có tập huấn cho địa phương.
Lộ trình này nhằm hướng tới mục tiêu trọng tâm là hoàn thiện liên thông, cá nhân hóa, và lấy dữ liệu làm trung tâm điều hành của ngành du lịch, theo chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khi triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW giai đoạn 2026-2030./.
Tin cùng chuyên mục
Lớp học khiếm thị trong thời đại số
Phát động 60 ngày đưa kỹ năng số đến từng người dân
Hoàn thiện Mô hình lưu trữ, sản xuất thông tin tư liệu video
Phường Hồng Hà ra mắt mô hình “Tổ dân phố số” trên iHanoi
Nhằm đưa công nghệ số đến gần hơn với đời sống người dân, chiều 8/10, phường Hồng Hà (Hà Nội) ra mắt mô hình “Tổ dân phố số” trên nền tảng iHanoi. Mô hình tạo kênh kết nối, trao đổi thông tin hai chiều giữa chính quyền và người dân, giúp người dân tiếp cận nhanh các chủ trương, chính sách và phản ánh những vấn đề phát sinh tại địa bàn.
Đại chiến mạng xã hội: Meta chặn quảng cáo TikTok
Quảng Trị nâng cao hiệu quả của chính quyền số
Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, Trung tâm Điều hành thông tin tỉnh Quảng Trị tích cực số hóa, kết nối hệ thống hành chính điện tử, quản lý và cung cấp thông tin kịp thời trên Cổng thông tin điện tử tỉnh. Qua việc vận hành hiệu quả mô hình chính quyền số hai cấp sau sắp xếp địa giới, Trung tâm giúp người dân, doanh nghiệp dễ tiếp cận chính sách và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Khám sức khỏe toàn dân: Nền tảng xây dựng hồ sơ sức khỏe điện tử
Bước phát triển ấn tượng của thành phố Cảng trên bản đồ đổi mới sáng tạo
Xây trường tích hợp, Indonesia ươm mầm tài năng trẻ
Indonesia đang triển khai mô hình Trường học Quốc gia Tích hợp (SNT) nhằm tạo môi trường giáo dục chất lượng cho học sinh có tiềm năng, đồng thời thu hẹp khoảng cách về cơ hội tiếp cận giáo dục giữa các địa phương. Đặc biệt, chương trình này ưu tiên cho những địa phương còn hạn chế về điều kiện kinh tế, vùng sâu, vùng xa.